Chương 2
Chương 2
Năm năm qua, giữa chốn phủ đệ lạnh lẽo này, chỉ có ông là người lặng lẽ chăm nom ta từng chút, chưa từng để ta phải cô độc. Ông nhét vào tay ta một phong thư.
“Thẩm cô nương, bức thư này là lão nô giữ giúp người. Là do mẫu thân người năm đó để lại, nói đợi đến khi người rời kinh thành mới được mở.”
Ta nhận thư, không mở ra ngay.
“Đa tạ Thẩm bá.”
“Cô nương bảo trọng.”
Hốc mắt lão nhân đỏ lên, lui sang một bên. Xe ngựa dừng ngoài cửa. Ta ôm Ý nhi lên xe. Thúy Vân khiêng rương đặt lên. Khoảnh khắc màn xe buông xuống, ta nghe phía sau có người chạy ra.
“Thanh Hòa!”
Là giọng của Cố Hành. Ta không vén màn.
“Đi thôi.” ta nói với phu xe.
Xe ngựa chậm rãi lăn bánh. Giọng hắn dần xa. Ý nhi ngẩng khuôn mặt nhỏ trong lòng ta lên: “Nương, phụ thân đang gọi người.”
“Ừ, ta nghe rồi.”
“Sao người không đáp?”
“Đáp suốt năm năm rồi, đủ rồi.”
Rời khỏi kinh thành, một đường xuôi Nam. Đi ba ngày, tới bến đò. Đêm đến, đợi Ý nhi ngủ say, ta mới mở bức thư Thẩm bá đưa cho. Giấy thư đã ố vàng, là bút tích của mẫu thân.
“Hòa nhi, nếu con đọc được bức thư này, chứng tỏ con đã rời kinh thành. Hãy đi về Giang Nam, tới Tô Hàng, tìm một người tên Thẩm Khánh Sơn. Ông ấy là thuộc hạ cũ của ngoại tổ con, ở số mười sáu ngõ Từ phía Nam thành Lâm An. Trong tay ông ấy có thứ ngoại tổ con để lại.”
Mẫu thân chưa từng nhắc tới chuyện nhà ngoại. Ta chỉ biết bà xuất thân Giang Nam, sau khi gả cho phụ thân thì gia đạo sa sút, lưu lạc tới kinh thành. Sau khi phụ thân qua đời, bà một mình nuôi ta lớn khôn, đến năm ta mười sáu tuổi thì lâm bệnh qua đời… Ngoại tổ để lại đồ vật sao? Cuối thư còn có một dòng chữ nhỏ.
“Đồ của Thẩm gia ta, không thiếu một thứ nào. Hòa nhi, đi lấy về.”
Ta gấp lá thư lại, cất sát người. Thuyền đò lắc lư trong màn đêm, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền. Thúy Vân ở bên cạnh gà gật ngủ. Ý nhi trở mình, bàn tay nhỏ đặt lên cánh tay ta. Ta nhắm mắt. Cố Hành, năm năm phu thê, đến hôm nay là hết. Hắn muốn Giang Ánh Nguyệt của hắn, ta muốn cuộc đời mới của ta. Xe ngựa đổi thành thuyền, thuyền lại đổi thành xe ngựa. Nửa tháng sau, ta dẫn theo Ý nhi và Thúy Vân tới Lâm An. Mùa xuân phương Nam khác với phương Bắc. Khắp nơi đều là nước, khắp nơi đều là cầu. Thúy Vân đi hỏi thăm vị trí ngõ Từ, ta dẫn Ý nhi vào quán trà nghỉ chân. Ý nhi bưng một bát bột củ sen hoa quế, ăn đến mức mặt mày rạng rỡ.
“Nương, cái này ngọt.”
“Thích thì ăn thêm đi.”
“Kinh thành không có cái này.”
“Đúng, kinh thành không có.”
“Vậy sau này chúng ta đều ở đây sao?”
“Vậy Ý nhi sau này sẽ không gặp lại phụ thân nữa sao?”
Ta xoa đầu con.
“Ý nhi nhớ phụ thân sao?”
Con bé cúi đầu nghĩ một lát, nghiêm túc nói: “Không nhớ lắm. Phụ thân luôn không ở nhà, có ở nhà cũng không bế Ý nhi.” Một đứa trẻ bốn tuổi, đã hiểu rõ. Thúy Vân trở lại, trên mặt mang theo vẻ kinh ngạc.
“Thiếu phu nhân, tìm được số mười sáu ngõ Từ rồi. Nhưng đó không phải là một trạch viện bình thường…”
“Đó là một tòa đại trạch ba tiến, trước cửa có người canh, trông giống như nhà quyền quý. Nô tỳ nói tìm Thẩm Khánh Sơn, người giữ cửa hỏi là ai, nô tỳ báo tên người, sắc mặt họ lập tức thay đổi.”
“Thay đổi?”
“Họ nói bảo nô tỳ quay về mời người đích thân tới. Còn nói… đã đợi người rất lâu rồi.”
Ta đặt chén trà xuống. Số mười sáu ngõ Từ, cổng lớn sơn đỏ, vòng đồng sáng bóng. Hai đại hán áo ngắn đứng trước cửa, thấy ta ôm Ý nhi bước tới, lập tức quỳ một gối xuống.
“Tiểu thư!”
Ta nhíu mày. Bọn họ gọi là “tiểu thư”, không phải “cô nương”, cũng không phải “phu nhân”. Cửa lớn mở ra, một người đàn ông áo xám hơn năm mươi tuổi bước nhanh ra. Hai bên tóc mai đã bạc, thân hình thẳng tắp, hốc mắt đỏ hoe.
“Ngươi là… Thẩm Khánh Sơn?”
Ông ta bịch một tiếng quỳ xuống đất.
“Lão nô Thẩm Khánh Sơn, đợi tiểu thư suốt hai mươi mốt năm!”
Thẩm Khánh Sơn mời ta vào chính sảnh. Ý nhi được một phụ nhân hiền lành dẫn đi ăn điểm tâm, Thúy Vân theo bên cạnh. Trong sảnh chỉ còn lại ta và Thẩm Khánh Sơn. Ông từ nội thất bưng ra một chiếc hộp gỗ đàn, hai tay dâng lên.
“Tiểu thư, đây là thứ lão thái gia trước khi lâm chung giao cho lão nô. Người nói, đợi đến ngày tiểu thư tới, phải tận tay giao lại.”
Ta mở hộp ra. Bên trong là một xấp khế đất, khế nhà, khế ước cửa hàng, còn có ba tờ ngân phiếu. Ta tiện tay lật xem mấy tờ khế đất, mí mắt khẽ giật.
“Phường dệt phía đông thành Lâm An, thương hành lương thực phía nam thành, hiệu vải bông ở Tùng Giang, trà hiệu ở Hàng Châu…”
Ta ngẩng đầu nhìn ông.
“Những thứ này đều là sản nghiệp của ngoại tổ sao?”
Thẩm Khánh Sơn gật đầu: “Lão thái gia năm đó ở Giang Nam kinh doanh suốt ba mươi năm, gia nghiệp trải khắp Tô Hàng. Sau này bị người hãm hại, triều đình tịch thu những sản nghiệp trên mặt nổi. Nhưng lão thái gia sớm đã có chuẩn bị, âm thầm chuyển dời phần lớn gia sản, phân tán trong tay mấy chục người đáng tin. Những năm này lão nô vẫn thay người quản lý, nay cả vốn lẫn lãi, nếu quy đổi thành bạc…”