Hoa Vô Dương – Ngọc Tuyết Cung
5 phút đọc

Chương 15

Chương 15

Ngôn quan dâng sớ liên tiếp, kẻ nói hắn lơ là chức trách, kẻ tố hắn tư thông bán nước, thậm chí có người công khai buộc tội hắn vì một nữ nhân mà đem xã tắc ra làm trò đùa. Hoàng đế vốn đã sớm sinh lòng nghi kỵ với hắn, nay có cớ liền thu hồi toàn bộ quyền lực, phế bỏ tước vị Nhiếp Chính Vương, rồi lấy danh nghĩa “tĩnh dưỡng” mà giam lỏng hắn trong phủ. Người từng một bước trên vạn người, quyền khuynh triều dã, chỉ trong chớp mắt đã trở thành trò cười lớn nhất kinh thành. Chung thúc nói xong, khẽ ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt dè dặt, như muốn dò xét tâm ý. Tựa hồ muốn từ nét mặt ta tìm ra một chút dao động nào đó. Nhưng ta chỉ lặng lẽ nghe, từ đầu đến cuối không hề thay đổi sắc mặt. Trong lòng cũng vậy, không gợn lên dù chỉ một làn sóng nhỏ. Những điều ông vừa nói, vốn đã nằm trong dự liệu của ta từ trước; đó là kết cục ta đích thân trải đường cho hắn, từng bước một, không sai lệch. Vì thế, ta không có nửa phần thương hại. Cũng không có nửa phần khoái ý. Tiêu Quyết giờ đây, với ta, chỉ là một người xa lạ đã từng quen biết. Vinh nhục, sống chết của hắn, đều không còn đủ sức chạm tới tâm can ta nữa.
“Ta biết rồi.” Ta nhàn nhạt lên tiếng. “Từ nay về sau, chuyện kinh thành không cần bẩm báo với ta nữa.”
Chung thúc như muốn nói thêm điều gì, nhưng cuối cùng vẫn chỉ khẽ gật đầu: “Vâng, chủ gia.” Ông lui ra ngoài. Trong phòng lại trở về tĩnh lặng, chỉ còn tiếng mưa lất phất ngoài hiên, rơi đều trên mái ngói. Ta nâng chén trà lên, khẽ nhấp một ngụm. Nước đã nguội từ lâu, lạnh đến tận cổ họng, giống hệt trái tim ta — thứ đã sớm nguội tắt sau bao năm bão tố. Ta từng nghĩ, giữa ta và hắn, mọi bụi trần của quá khứ đến đây đã hoàn toàn lắng xuống. Từ nay, không còn dây dưa. Không còn quay đầu. Xuân Giang Nam luôn đến sớm hơn nơi khác. Chỉ cần mưa xuân vừa dứt, sắc xanh đã như bừng tỉnh, tràn khắp vườn tược, không sao kìm nổi. Liễu rủ đâm chồi non mướt. Đào nở rực cả cành. Thanh Nguyệt Cư trong ánh xuân ấy đẹp như một bức họa thủy mặc, vừa dịu dàng vừa trong trẻo. Ta bắt đầu bước ra khỏi gian phòng vốn đã quen thuộc, thong thả tản bộ trong vườn, hoặc đôi khi chống một chiếc thuyền nhỏ, một mình xuôi theo mặt hồ phẳng lặng giữa trang viên. Cuộc sống an nhàn đến mức khiến người ta sinh ra ảo giác, như thể hai kiếp khổ đau và tranh đấu kia chỉ là một giấc mộng xa xôi, chưa từng thực sự tồn tại. Hôm ấy, Xuân Hòa theo ta dạo bên hồ. Nàng bỗng dừng bước, chỉ sang bờ đối diện.
“Tiểu thư, người nhìn kìa,” nàng khẽ nói, “bên kia từ khi nào lại có thêm một quầy vẽ?”
Ta theo hướng tay nàng nhìn sang. Quả nhiên, dưới gốc liễu rủ bên bờ hồ đối diện, không biết từ lúc nào đã xuất hiện một chiếc sạp nhỏ. Sau sạp là một nam nhân mặc áo vải thô giản dị, cúi đầu lặng lẽ vẽ tranh, dáng vẻ bình thản như thể chưa từng bị thế gian làm phiền. Ta khẽ nheo mắt. Trong khoảnh khắc ấy, gió xuân chợt thổi mạnh hơn một chút. Mặt hồ khẽ dậy sóng. Thân hình hắn có phần gầy gò, dáng lưng nhìn từ xa mang theo chút tiêu điều, giống hệt một thư sinh thất chí phải lưu lạc phương Nam kiếm sống bằng vài bức họa ven hồ. Ta không để tâm. Giang Nam vốn nhiều tài tử, những người dựa vào bút mực để mưu sinh như thế này ở đâu cũng có. Một kẻ bán tranh ven bờ nước, với ta mà nói, chỉ là một bóng hình quá đỗi bình thường giữa muôn vàn người qua lại. Thế nhưng những ngày sau đó, quầy vẽ ấy vẫn luôn ở đó. Người họa sư kia cũng vẫn ngồi nguyên chỗ cũ. Có lẽ việc buôn bán không được khá lắm, bởi rất ít người dừng chân trước sạp của hắn. Hắn cũng chẳng rao bán, không chào mời, chỉ lặng lẽ ngồi đó ngày này qua ngày khác, cúi đầu vẽ. Vẽ hồ nước. Vẽ hàng liễu. Vẽ mây trời lững lờ trên đỉnh đầu. Sự trầm mặc ấy khiến Xuân Hòa sinh lòng thương hại. Nàng khẽ nói với ta: “Tiểu thư, vị họa sư kia trông thật đáng thương, cả ngày chẳng bán được nổi một bức tranh. Hay chúng ta qua mua giúp hắn một bức?” Ta lắc đầu.
“Không cần.”
Chính ta cũng không rõ vì sao, nhưng trong lòng luôn có một cảm giác bất an mơ hồ, như có điều gì đó không đúng. Hắn ở rất xa, ta không nhìn rõ mặt, vậy mà mỗi lần ánh mắt lướt qua bóng lưng gầy gò ấy, trong tim lại dấy lên một cảm giác quen thuộc khó gọi thành tên. Cảm giác ấy giống như một mũi kim nhỏ, không đủ đau để khiến người ta bật khóc, nhưng lại đủ sâu để không thể làm ngơ. Từ đó, ta bắt đầu tránh khu hồ, không còn tản bộ về hướng ấy nữa. Thế rồi chỉ vài ngày sau, quầy vẽ biến mất. Người họa sư cũng không còn thấy bóng.