Chương 2
Chương 2
Phượng không cho ai chạm vào tờ vé.
Chị đặt nó giữa hai lớp túi nhựa, chụp bốn góc, ghi giờ và gọi cho đại lý xổ số. Nhân viên đại lý bảo mã seri hợp lệ, nhưng phải chờ đối chiếu bản gốc. Người xuất hiện trong hệ thống là Nguyễn Tùng, sinh năm 1994.
Tùng nghe xong, cười khô.
“Căn cước đó không phải của tôi.”
Nhi tưởng anh đùa. Tùng đưa ra chiếc căn cước trong ví. Ảnh đúng là anh, nhưng tên trên thẻ là Nguyễn Thành, không phải Tùng. Anh giải thích Tùng chỉ là tên mọi người gọi; tên thật của anh là Thành. Căn cước mang tên Nguyễn Tùng là giấy tờ mượn để đăng ký ứng dụng giao hàng, vì tài khoản cũ bị khóa do một vụ nợ.
Phượng nhìn sổ góp. Dòng số 07 ghi Tùng, nhưng không có số căn cước.
“Vậy ai là Nguyễn Tùng?” Nhi hỏi.
Thành không trả lời. Anh nhận được một cuộc gọi, nghe vài giây rồi đi ra ngoài. Khi trở lại, mặt anh trắng bệch.
“Có người đang tìm tôi.”
Một người đàn ông mặc sơ mi trắng bước vào quầy cơm. Ông tự giới thiệu là Lâm, giám đốc một công ty vận chuyển. Ông mang theo biên lai mua vé, trong đó ghi cùng dãy số và cùng mã seri.
“Tờ vé này tôi mua cho nhân viên,” Lâm nói. “Người cầm nhầm vé của tôi.”
Ông ta nói bằng giọng bình thản của người quen được nghe lời. Chiếc đồng hồ trên cổ tay sáng lóa mỗi khi ông đưa tay chỉ vào tờ vé. Lâm không nhìn Nhi, chỉ nhìn Phượng, như thể đã biết ai là người giữ chìa khóa của cả nhóm.
Phượng đặt một cái đĩa úp lên túi vé. “Biên lai của ông có dấu đại lý không?”
“Tôi mua theo hợp đồng công ty. Đại lý giao tận nơi.”
“Vậy sao ông không mang bản gốc?”
Lâm mỉm cười. “Bản gốc ở nơi an toàn hơn quầy cơm này.”
Bảo lén bật camera điện thoại. Lâm nhìn thấy nhưng không ngăn, chỉ nhắc rằng quay người khác khi chưa được phép có thể khiến cậu gặp rắc rối. Câu nói nghe như lời khuyên, nhưng ánh mắt ông ta đã ghi nhớ từng khuôn mặt.
Phượng yêu cầu xem bản gốc. Lâm chỉ đưa ảnh chụp, nhưng ảnh có dấu thời gian trước lúc nhóm mười người mua vé.
“Tôi có thể giải quyết bằng tiền,” ông ta nói. “Năm trăm triệu cho cô chủ quán, hai trăm cho nhóm.”
Nhi từ chối. Lâm nhìn quanh quầy, dừng ở tập hồ sơ bệnh viện của mẹ cô.
“Cô nên nghĩ đến khoản nợ chữa bệnh. Bảy tỷ nghe lớn, nhưng kiện tụng sẽ kéo dài hơn thời gian mẹ cô cần thuốc.”
Ông ta để lại danh thiếp. Sau khi đi, Phượng phát hiện chiếc ví đựng tờ vé đã bị mở khóa. Không mất gì, nhưng một mảnh giấy ghi tên từng người trong nhóm đã biến mất.
Từ ngăn kéo dưới bếp, Nhi lấy ra chiếc ô đen Bảo nhặt được lúc đầu tối. Miếng băng keo chữ L vẫn còn, nhưng bên trong cán ô có một khe rỗng vừa đủ nhét thẻ nhớ. Bảo tháo nắp, thấy khe trống và một sợi dây đồng nhỏ. Ai đó đã dùng chiếc ô để đặt một thiết bị nghe lén tạm thời, sau đó lấy đi thẻ.
“Lâm không cần biết tờ vé nằm ở đâu,” Bảo nói. “Ông ta chỉ cần biết ai sẽ sợ trước.”
Phượng bắt cậu xóa ảnh, nhưng Nhi giữ lại một bản sao gửi vào email. Lúc đó cô nhận được tin nhắn từ số lạ: Đừng để chị Phượng làm đại diện. Người đại diện sẽ là người phải trả tiền nếu vé có vấn đề.
Nhi hỏi Lâm về khoản “trả tiền” ấy. Ông ta không trả lời trực tiếp, chỉ kể rằng công ty ông từng giúp rất nhiều công nhân làm lại giấy tờ sau tai nạn. “Người không có giấy tờ thì không có tiếng nói,” ông nói. “Tôi cho họ một cái tên để làm việc. Cái tên ấy có giá của nó.”
Thành đứng ngoài hiên nghe hết. Khi Lâm rời đi, anh nói nhỏ rằng công ty đã từng giữ căn cước của nhiều người giao hàng, viện cớ để đối chiếu hồ sơ. Phượng hỏi anh có từng đưa thẻ của mình không. Thành nhìn xuống đôi dép ướt.
“Tôi đã đưa. Nhưng lúc đó tôi không còn lựa chọn.”
Thành nói phải giao tờ vé cho công ty xổ số, còn Phượng nhất quyết giữ. Hai người tranh cãi ngay giữa quầy.
“Chị là người mua vé,” Thành nói. “Chị không được tự quyết định cho tôi.”
Phượng sững lại. Chị đã quen đứng ra lo mọi việc, nhưng câu nói ấy đúng.
Đêm đó, Nhi mở sổ góp. Dòng số 07 không còn nét bút của Phượng. Ai đó đã viết đè lên bằng mực đen, thêm một chữ nhỏ trước tên Tùng: Nguyễn.
Ở cuối trang, một mũi tên chỉ vào tên Phượng.