Chương 10
Chương 10 — Vết Mực Trên Bản Đồ Cũ
Khi màn đêm đen kịt buông xuống bao trùm toàn bộ khu định cư, thứ ánh sáng duy nhất còn le lói là từ những ngọn đèn dầu hỏa leo lét xuyên qua các vách ván ép của những ngôi nhà xơ xác. An mặc chiếc áo khoác tối màu, cẩn thận bước đi trên con đường mòn đầy cỏ dại lút đến tận đầu gối, vòng ra phía sau xóm theo đúng lời hẹn của người phụ nữ trẻ lúc chiều.
Căn nhà tranh nằm lẻ loi sát chân đồi trọc, tách biệt hoàn toàn với phần còn lại của khu định cư. Không có đèn điện, chỉ có một ngọn nến nhỏ thắp sáng trên chiếc bàn thờ bằng gỗ mộc mạc giữa nhà. Người phụ nữ trẻ đang đợi sẵn ở cửa, vội vã kéo An vào trong rồi đóng chặt tấm cửa phên tre lại.
Trong góc nhà tranh tối tranh sáng, trên chiếc chõng tre ọp ẹp, một cụ bà gầy gò, lưng còng rạp xuống đang ngồi nhai trầu. Mái tóc cụ bạc trắng như cước, đôi mắt đã đục ngầu, hõm sâu vào trong hốc mắt, biểu hiện của một người đã mù lòa nhiều năm. Nhưng khuôn mặt cụ lại toát lên một vẻ khắc khổ, cam chịu và một sự kiên cường kỳ lạ.
"Bà nội," người phụ nữ trẻ khẽ gọi, dắt tay An tiến lại gần. "Cô gái ở thủ đô mà con kể lúc chiều đã đến rồi ạ."
Cụ bà ngừng nhai trầu, ngẩng đầu lên, hướng đôi mắt mù lòa về phía có tiếng bước chân. "Cô là người của chính phủ? Cô đến đây để bắt những kẻ già nua này phải im miệng vĩnh viễn sao?"
"Dạ không thưa cụ," An vội vàng quỳ một chân xuống sàn nhà bằng đất nện, nắm lấy đôi bàn tay nhăn nheo, lạnh ngắt của cụ. "Cháu là Lê An, một nhân viên lưu trữ lịch sử. Cháu không làm việc cho những kẻ đã hãm hại dân làng cụ. Cháu vừa từ thung lũng Hòn Sương trở về. Cháu đã gặp ông Bảy Thợ Săn. Cháu đã biết sự thật về hầm trầm hương và chiến dịch X-14."
Nghe đến tên ông Bảy và hầm trầm hương, cụ bà giật thót mình, cả người run lên bần bật. "Thằng Bảy... nó còn sống sao? Trời Phật ơi, vậy mà mấy chục năm nay tôi cứ tưởng nó đã chết gục trong rừng già rồi."
An mở balo, cẩn thận lấy ra tấm bài vị bằng đá mà cô đã lau chùi sạch sẽ. Cô đặt nó vào giữa hai bàn tay đang run rẩy của cụ bà.
"Cụ ơi, cháu tìm thấy vật này dưới hố bùn sụt lún ở trung tâm thung lũng. Cụ sờ thử xem..."
Bàn tay gầy guộc của cụ bà lướt nhẹ trên bề mặt nhám của phiến đá. Những ngón tay chai sạn dò dẫm theo từng đường nét khắc chìm. Đột nhiên, cụ khựng lại ở ký tự đầu tiên. Rồi ký tự thứ hai. Cụ vuốt ve những dòng chữ Hán Nôm một cách thành thục, như thể cụ đã đọc chúng hàng ngàn lần trong tâm trí.
"Phụng tự... Lê môn đường thượng... Làng Đan Trầm..." Cụ bà nức nở đọc theo từng nét khắc, nước mắt đục ngầu trào ra từ đôi mắt mù lòa, lăn dài trên gò má nhăn nheo. "Đúng rồi... Đúng là bài vị của dòng họ Lê nhà tôi rồi! Cha ơi! Mẹ ơi!"
Cụ ôm chặt phiến đá vào ngực, khóc òa lên nức nở, tiếng khóc của một đứa trẻ bị tước đoạt gia đình bị dồn nén suốt nửa thế kỷ giờ mới được giải phóng. "Cha tôi là Lê Văn Thiện, trưởng bản Đan Trầm. Tấm bài vị này do chính tay cụ nội tôi thuê thợ đá ngoài kinh đô chạm khắc. Nó đặt trên bàn thờ giữa nhà tôi. Làm sao... làm sao cháu tìm thấy nó dưới đống tro tàn đó?"
"Cháu đã tìm thấy nó, cụ ạ. Nó là bằng chứng chứng minh làng Đan Trầm thực sự tồn tại. Cháu xin cụ, hãy kể cho cháu nghe toàn bộ sự thật. Sao cụ lại sống sót, và sao mọi người ở đây lại phải chịu cảnh im lặng suốt bao nhiêu năm qua?" An khẩn khoản.
Cụ bà dùng tay áo bà ba lau nước mắt, vuốt ve tấm bài vị một lần nữa rồi mới cất giọng khàn đặc, chậm rãi kể lại câu chuyện đẫm máu.
"Tôi tên là Lê Thị Mây. Năm đó tôi vừa tròn hai mươi tuổi. Vì biết chút ít chữ nghĩa và cách băng bó vết thương, tôi được cử xuống trạm xá huyện cách làng gần hai ngày đường bộ để học lớp y tá cấp tốc, phục vụ kháng chiến. Cái đêm định mệnh đó, trạm xá huyện có quá nhiều thương binh nặng đưa về, tôi phải ở lại phụ giúp mổ xẻ, không thể về thăm nhà như dự định."
Giọng cụ Mây nghẹn lại, một tia uất hận ánh lên trên khuôn mặt già nua. "Khi tôi trở về, Đan Trầm không còn nữa. Cả thung lũng ngập trong khói lửa và mùi khét lẹt. Có những rào chắn kẽm gai dựng lên khắp nơi. Bọn lính gác nói đó là khu vực cấm quân sự, ai bước vào sẽ bị bắn bỏ. Tôi gào khóc, đòi vào tìm cha mẹ, tìm họ hàng, nhưng chúng chĩa súng vào đầu tôi. Chúng gom tôi và khoảng vài chục người dân Đan Trầm khác – những người may mắn sống sót vì đêm đó đang đi làm nương xa hoặc đi buôn bán dưới xuôi – tống lên xe tải bạt, chở thẳng về khu đồi trọc cằn cỗi này."
"Họ đe dọa cụ thế nào?" An rùng mình hỏi.
"Tên chỉ huy trưởng... hắn có một đôi mắt sắc như dao bầu," cụ Mây rùng mình nhớ lại. "Hắn gọi tập hợp chúng tôi lại giữa đêm khuya. Hắn nói làng Đan Trầm đã bị bom giặc rải thảm chết hết rồi. Nếu đứa nào dám nhắc đến hai chữ Đan Trầm, hay hé răng nửa lời về việc từng có lính phe ta vào làng trước khi bom nổ, hắn sẽ khép tội phản quốc, tội làm gián điệp và bắn bỏ không tha. Hắn nói mạng sống của chúng tôi giờ như cỏ rác, gia đình chúng tôi chết rồi, chúng tôi sống thêm ngày nào là nhờ ơn hắn tha mạng ngày đó. Hắn lập ra cái 'Khu định cư Bình Minh' này để giam lỏng chúng tôi, ngày đêm có người theo dõi. Suốt bao nhiêu năm, chúng tôi sống như những bóng ma, cắn răng nuốt nước mắt vào trong, không dám than khóc, không dám thờ cúng tổ tiên, sợ liên lụy đến những đứa trẻ sinh ra sau này."
"Nhưng tại sao, thưa cụ?" An cay đắng hỏi. "Ông Bảy kể rằng chúng lùa người dân vào hầm trầm hương rồi cho nổ mìn. Chúng muốn cướp số trầm đó phải không?"
"Phải!" Cụ Mây nghiến răng, tay siết chặt lấy thành giường tre. "Đan Trầm nghèo khó, nhưng có một kho trầm hương tự nhiên khổng lồ tích tụ hàng trăm năm dưới hang ngầm. Cha tôi, với tư cách là trưởng bản, luôn cự tuyệt những kẻ lái buôn từ dưới xuôi lên gạ mua, vì cụ bảo đó là báu vật của rừng già, bán đi sẽ bị thần rừng trừng phạt. Nhưng lòng tham của con người còn đáng sợ hơn thần thánh. Cái tên chỉ huy đó đã cấu kết với đám buôn lậu lớn. Chúng lợi dụng tình hình chiến tranh loạn lạc, lấy danh nghĩa quân sự để phong tỏa thung lũng. Chúng lùa dân làng xuống hầm làm vật tế thần, giật mìn đánh sập cửa hầm để không ai thoát ra được, rồi ung dung đem người của chúng vào khai thác kho báu trong nhiều tháng trời sau đó, trước khi ủi phẳng hoàn toàn mặt đất để xóa dấu vết."
"Cụ có biết tên của kẻ chỉ huy đó không?" An hồi hộp hỏi, tay cầm sẵn cuốn sổ tay.
"Đại tá Trần Hùng là kẻ thực thi, kẻ đe dọa chúng tôi," cụ Mây nói rành rọt. "Nhưng kẻ đứng sau, kẻ có quyền lực che trời để ký lệnh xóa sổ Đan Trầm, tên là... Trần Văn Định. Lúc đó hắn là Chính ủy cấp cao của bộ chỉ huy tiền phương."
Trần Văn Định.
An cảm thấy trời đất như sụp đổ dưới chân mình. Cái tên đó dội vào màng nhĩ cô như một hồi chuông báo tử. Cô không xa lạ gì với cái tên này. Bức chân dung của ông ta được treo trang trọng trong phòng truyền thống của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia. Và quan trọng hơn cả, Trần Văn Định chính là cha ruột của Giám đốc Trần Văn Bình – vị lãnh đạo cao nhất, người quyết định sự nghiệp và cuộc đời của An tại cơ quan hiện tại.
Kẻ cướp bóc, kẻ sát nhân hàng loạt năm xưa lại là cha của một vị quan chức quyền thế đang nắm giữ kho tàng lịch sử của quốc gia. Một sự trớ trêu đến rợn người. Bảo sao những tài liệu về Đan Trầm lại bị tiêu hủy và làm giả một cách hoàn hảo đến vậy. Quyền lực của bọn họ đã nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác để bảo vệ một tội ác trời không dung đất không tha.
"Hắn ta... con trai hắn ta hiện đang làm Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia," An thì thầm, giọng hoang mang tột độ. "Giờ thì cháu hiểu vì sao Trưởng phòng Khang lại phản ứng tiêu cực khi cháu nhắc đến vệt mực che giấu Đan Trầm. Họ đang bảo vệ cho cái ghế của Giám đốc."
Cụ Mây nhếch mép cười cay đắng. "Cỏ dại thì dễ nhổ, chứ cây cổ thụ rễ cắm sâu vào đất có độc thì khó chặt lắm cháu ạ. Nhưng ông trời có mắt. Cha tôi trước khi chết đã linh tính được tai họa."
Cụ Mây lần mò thò tay vào trong lớp áo lót bên trong ngực áo bà ba, rút ra một chiếc hộp thiếc nhỏ xíu, gỉ sét và bong tróc sơn, vốn dùng để đựng thuốc lào ngày xưa. Cụ run rẩy đặt nó vào tay An.
"Chiếc hộp này là kỉ vật duy nhất tôi giữ lại được. Cha tôi đã nhét nó vào tay tôi trước khi tôi đi xuống trạm xá huyện, dặn dò tôi bằng mọi giá phải giữ kín. Trong này là những bức thư cha tôi viết, định gửi lên cấp cao nhất của Trung ương để tố cáo hành vi hạch sách, đòi hối lộ trầm hương của nhóm sĩ quan Trần Văn Định. Nhưng thư chưa kịp gửi thì thảm kịch đã giáng xuống. Mấy chục năm qua tôi bị mù, không đọc được, chỉ biết giấu kín nó trong người. Giờ tôi giao nó cho cháu."
An cẩn thận mở chiếc hộp thiếc gỉ sét. Bên trong là vài tờ giấy pơ-luya ố vàng, gấp nhỏ xíu. Cô mở ra, dùng đèn pin soi sáng.
Nét chữ của cụ trưởng bản Lê Văn Thiện cứng cáp, đầy phẫn nộ, kể rõ những thủ đoạn đe dọa của Trần Văn Định và đồng bọn, cầu cứu sự can thiệp của cấp trên. Và đi kèm với những bức thư đó, là một tờ giấy có đóng dấu mộc đỏ chót của bộ chỉ huy tiền phương, ra lệnh đánh chặn thư khiếu nại của Đan Trầm. Chữ ký trên tờ giấy đó, rõ ràng và kiêu ngạo, nét chữ sắc lẹm: Chính ủy Trần Văn Định.
An siết chặt xấp giấy mỏng manh trong tay. Đây là đòn chí mạng. Tấm bài vị chứng minh Đan Trầm tồn tại. Lời khai của cụ Mây và ông Bảy vạch trần vụ thảm sát. Và xấp thư này chính là bằng chứng tố cáo động cơ đê hèn và kẻ chủ mưu thực sự.
Cô đang nắm trong tay vũ khí để tiêu diệt một đế chế quyền lực được xây dựng trên máu và nước mắt. Nhưng đồng thời, cô cũng đang đặt bản thân mình vào một cuộc chiến sinh tử, nơi mà đối thủ của cô có thể dùng quyền lực để bóp chết cô như cách chúng đã bóp chết Đan Trầm nửa thế kỷ trước.
"Cháu sẽ mang sự thật này về Hà Nội, thưa cụ," An đứng dậy, cất kỹ chiếc hộp thiếc vào túi áo ngực, đôi mắt bừng sáng một sự quyết tâm không gì lay chuyển nổi. "Bất chấp cái giá phải trả là gì, vết thương Đan Trầm phải được chữa lành, và những kẻ gây ra tội ác phải đền tội."