Quỳ Gối Trước Nữ Vương, Công Tước
13 phút đọc

Chương 18

Chương 18 — Quỳ Gối Trước Nữ Vương, Công Tước

Cập nhật 06/09/2026 13 phút đọc

Buổi thiết triều quan trọng bàn về việc phân bổ quân lương cho các vùng biên trấn diễn ra vào một buổi sáng trời trong, không một gợn mây, đại điện chật kín văn võ bá quan, không khí trang nghiêm như mọi lần thiết triều quan trọng khác. Sầm Khinh Vũ, trong bộ xiêm y công chúa lộng lẫy được may riêng cho những dịp trọng đại, ngồi ở vị trí danh dự gần ngai vàng, gương mặt điềm tĩnh không để lộ bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy nàng đã biết trước về âm mưu ám sát đang chờ đợi mình.

Ngay trước giờ thiết triều, Bàng đã kịp trở về kinh thành sau một đêm phi ngựa không nghỉ, mang theo tin tức mà Khinh Vũ đã dự đoán chính xác: một trong ba thương hội muối biển nàng từng chỉ điểm, hai ngày trước, đã nhận được một đơn đặt hàng khẩn cấp, số lượng gấp ba lần thông thường, ký tên một vị quan trông coi hậu cần không hề có thật trong sổ bộ triều đình, gửi thẳng đến doanh trại lương thảo phía tây thành — nơi không nằm trong danh sách được cấp phát muối định kỳ. Đúng như Khinh Vũ đã suy đoán từ những con số không khớp trong đầu, đây chính là dấu hiệu của phương án dự phòng mà Tưởng Bá Khiêm đã giấu kín. Việt Khôi nhận được tin ấy chỉ vài khắc trước khi buổi thiết triều bắt đầu, kịp thời cho người âm thầm phái một toán cấm vệ tinh nhuệ mai phục sẵn trên con đường độc đạo dẫn từ doanh trại phía tây vào thành, chờ lệnh.

Đúng như kế hoạch của Tưởng Bá Khiêm đã sắp đặt, giữa buổi thiết triều, một tên lính canh hớt hải chạy vào báo tin có náo loạn xảy ra ở cổng thành phía đông, cần gấp lực lượng thị vệ đến xử lý. Vài vị quan phụ trách an ninh trong đại điện, trong đó có cả một số thị vệ dưới quyền Việt Khôi, tỏ ra bối rối, một số định cáo lui để đi xử lý tình huống. Nhưng Việt Khôi, đã được báo trước về chiêu trò đánh lạc hướng này, bình thản ra hiệu cho họ giữ nguyên vị trí, chỉ cử một toán nhỏ không quan trọng đi kiểm tra tình hình, còn bản thân chàng vẫn đứng nguyên tại chỗ, ánh mắt kín đáo quan sát khắp đại điện.

Giữa giờ nghỉ giải lao ngắn ngủi của buổi thiết triều, khi không khí trong đại điện có phần lắng xuống sau náo động vừa qua, một cung nữ trẻ tuổi, gương mặt xinh xắn nhưng ẩn chứa vẻ căng thẳng khó nhận ra, bưng một khay trà tiến đến gần khu vực Khinh Vũ đang ngồi, theo đúng thông lệ dâng trà giữa giờ nghỉ giải lao của buổi thiết triều. Tay nàng ta run đến mức chén trà trên khay khẽ va lanh canh vào nhau theo từng bước chân, phải nín thở ghìm lại mới giữ được khay đứng yên.

Khinh Vũ, mắt vẫn nhìn thẳng phía trước như đang lơ đãng theo dõi buổi thiết triều, thực chất đã để ý từng bước chân của cung nữ ấy từ lúc nàng ta còn cách xa hơn mười bước. Không phải vì gương mặt hay dáng vẻ có gì khả nghi — Tưởng Bá Khiêm chọn người kỹ đến mức không một sơ hở nào lộ ra bên ngoài — mà vì một chi tiết nhỏ nhặt chỉ người từng đứng bếp pha trà tiếp khách suốt ba năm làm dâu mới có thể nhận ra: chén trà trên khay ấy sóng sánh không đúng nhịp. Trà thật, dù nóng đến đâu, cũng lắng xuống theo bước chân đều đặn của người bưng; thứ nước trong chén này lại khẽ gợn lên mỗi khi cung nữ nuốt nước bọt, như thể chính tay nàng ta cũng đang run lên vì sợ chính thứ mình đang bưng. Khinh Vũ khẽ hạ mi mắt xuống nửa phân, đủ để một thị vệ đứng khuất phía cột điện, người đã cải trang phục vụ trong đại điện suốt nhiều tháng qua theo lệnh Việt Khôi, bắt được tín hiệu ấy.

Chỉ một nhịp thở sau, thị vệ ấy "vô tình" vấp chân, va chạm mạnh vào cung nữ khiến chén trà trên khay đổ hết ra sàn điện. Cung nữ ấy hoảng hốt, vội vàng quỳ xuống xin lỗi rối rít, nhưng ánh mắt lấm lét của nàng ta đã không qua được sự quan sát tinh tường của Việt Khôi, người lập tức ra hiệu cho vài thị vệ khác âm thầm áp sát, không cho nàng ta có bất kỳ cơ hội nào để rời khỏi đại điện hay tẩu thoát.

"Bẩm Thánh thượng," Việt Khôi bước ra khỏi hàng, quỳ xuống tâu trình, giọng vang vọng khắp đại điện, "thần có chuyện khẩn cấp cần tấu trình ngay lúc này, liên quan đến một âm mưu ám sát công chúa Sầm Khinh Vũ đang được thực hiện ngay tại đây."

Tiếng tâu trình dứt khoát ấy vang lên như một quả bom giữa không khí trang nghiêm vốn có của buổi thiết triều. Cả đại điện xôn xao, mọi ánh mắt đổ dồn về phía Việt Khôi rồi lại chuyển sang cung nữ đang run rẩy quỳ trên sàn điện. Đương kim Thánh thượng, gương mặt lập tức trở nên nghiêm nghị khác thường, ra lệnh cho Việt Khôi trình bày rõ ràng, đầy đủ mọi chi tiết của sự việc. Chàng liền cho người mang chén trà vừa đổ ra kiểm nghiệm ngay tại chỗ bởi một vị ngự y có mặt trong đại điện, kết quả xác nhận rõ ràng trong trà có chứa một loại độc dược cực mạnh, đủ để đoạt mạng một người trưởng thành khỏe mạnh chỉ trong vài khắc ngắn ngủi nếu chẳng may uống phải.

Cung nữ ấy, dưới áp lực của cả đại điện cùng những bằng chứng không thể chối cãi, cuối cùng cũng run rẩy khai ra toàn bộ sự thật, rằng chính viên quản gia thân tín của Thái sư Tưởng Bá Khiêm đã tìm đến, dùng tiền bạc và lời đe dọa để ép buộc nàng ta phải ra tay hạ độc công chúa ngay trong buổi thiết triều hôm nay. Lời khai ấy như một tiếng sét giữa trời quang, khiến cả đại điện chấn động, không ít ánh mắt kinh hãi đổ dồn về phía Tưởng Bá Khiêm, người vẫn đang cố gắng giữ vẻ điềm tĩnh dù sắc mặt đã tái nhợt đi trông thấy.

"Đây hẳn là một sự vu khống trắng trợn," Tưởng Bá Khiêm lên tiếng, cố gắng giữ giọng bình tĩnh, "một con nha hoàn thấp hèn, lời nói của nó sao có thể tin được. Có lẽ đây chỉ là một âm mưu của kẻ nào đó muốn hãm hại thanh danh của lão thần."

"Nếu Thái sư cho rằng đây là vu khống," Việt Khôi đáp trả, giọng đanh thép không chút nao núng, "thì thần xin phép trình lên Thánh thượng thêm một số bằng chứng khác đã được thu thập suốt nửa năm qua, đủ để chứng minh mối liên hệ giữa Thái sư với vụ hỏa hoạn tại Vinh Thọ cung hai mươi năm trước, cũng như âm mưu hạ độc công chúa khi nàng còn mang danh phu nhân nhà họ Từ."

Nói rồi, Việt Khôi cho người mang ra toàn bộ tập hồ sơ chứng cứ đã chuẩn bị sẵn: lời khai của vị lang y từng bán độc dược cho Thẩm Nhược Lan, những ghi chép về mối liên hệ giữa viên quản gia của Tưởng Bá Khiêm với Nhược Lan tại ngôi miếu hoang, cùng với chính bức thư thú tội mà Từ Bách Quân đã gửi cho Khinh Vũ, trong đó dù đổ lỗi cho Nhược Lan nhưng cũng vô tình để lộ chi tiết về khoản tiền bí ẩn được chuyển đến từ một nguồn không rõ danh tính.

Tưởng Bá Khiêm liếc nhìn qua từng trang giấy được bày ra, khóe miệng vẫn cố giữ một nét khinh miệt. "Toàn là suy diễn," ông ta nói, giọng đã hơi gằn lại. "Một lá thư của kẻ hèn nhát muốn thoát tội, vài lời khai của bọn hạ nhân tham tiền, thứ đó sao có thể kết tội một vị Thái sư đã phụng sự triều đình suốt bốn mươi năm?"

Khinh Vũ, từ đầu đến giờ vẫn ngồi lặng yên quan sát, đến lúc này mới đứng dậy, bước ra giữa đại điện, dáng vẻ ung dung đến kỳ lạ trước một kẻ vừa suýt lấy mạng mình. Nàng không nhìn tập hồ sơ, cũng không nhìn cung nữ đang run rẩy, mà nhìn thẳng vào mắt Tưởng Bá Khiêm.

"Thái sư nói phải," nàng cất giọng, chậm rãi từng chữ, "một lá thư, vài lời khai, chưa đủ để kết tội một vị đại thần. Vậy để ta nói cho ngài nghe một chuyện, một chuyện chưa từng xuất hiện trong bất kỳ hồ sơ nào, vì chính hồ sơ ấy đã bị đóng lại chỉ một ngày sau khi lửa tắt. Đêm rằm tháng Bảy năm ấy, trước khi ngọn lửa bùng lên ở Vinh Thọ cung, toàn bộ cửa nẻo nơi ấy đã bị chèn chặt từ bên ngoài bằng những thanh xà gỗ, để không một cung nhân nào bên trong có đường thoát thân, dù họ có muốn sống đến đâu."

Đại điện chìm trong im lặng nặng nề. Đó là một chi tiết chưa từng được nhắc đến ở bất kỳ đâu suốt hai mươi năm qua, một chi tiết chỉ có kẻ đứng sau đám cháy mới có thể biết rõ đến từng khung cửa.

"Vu khống," Tưởng Bá Khiêm gằn giọng, nhưng lần này phản ứng của ông ta đến quá nhanh, quá cụ thể so với một người chỉ đang nghe một lời cáo buộc mơ hồ. "Chỉ có cửa chính và hai cửa hông bị chèn, cửa sau vẫn còn có thể—" Ông ta khựng lại giữa câu, nhận ra mình vừa buột miệng nói ra điều không ai từng hỏi đến, sắc mặt trắng bệch trong tích tắc.

Tiếng xì xào kinh hãi nổi lên khắp đại điện. Hàng chục cặp mắt bá quan văn võ đều đã nghe rõ ràng câu nói vừa thốt ra — một kẻ vô can sẽ không bao giờ biết chính xác cửa nào bị chèn, cửa nào bị bỏ ngỏ, càng không thể biết rằng chính cửa sau, nơi nhũ mẫu năm xưa đã bồng đứa trẻ sơ sinh chạy thoát, lại là lối duy nhất còn hé mở trong đêm định mệnh ấy. Chỉ có kẻ đã đích thân sắp đặt toàn bộ vụ hỏa hoạn mới có thể nói ra chi tiết ấy một cách tự nhiên đến vậy.

Ngay khi Tưởng Bá Khiêm nhận ra mình đã sa bẫy, một tên lính canh khác lại hớt hải chạy vào đại điện, quỳ sụp xuống, giọng hoảng loạn không kém lần trước. "Bẩm Thánh thượng, có một toán quân từ doanh trại phía tây đang tiến về phía hoàng thành, nói là diễn tập vận chuyển quân lương, nhưng đi sai giờ, sai lộ trình thường lệ!"

Cả đại điện lại một phen chấn động, vài vị quan lớn tuổi đứng bật dậy, không giấu nổi vẻ hoảng sợ trước nguy cơ binh biến giữa lòng kinh thành. Nhưng Khinh Vũ, không hề nao núng, lập tức lên tiếng trước khi bất kỳ ai kịp hoảng loạn thêm.

"Không cần lo sợ," nàng nói, giọng vang rõ khắp đại điện. "Toán quân ấy được điều động theo tín hiệu một chuyến hàng muối biển gắn cờ đỏ, gửi đến doanh trại phía tây hai ngày trước dưới một cái tên không hề có thật trong sổ bộ triều đình. Thần đã cho người xác minh từ đêm qua, và Dực Vương đã bố trí cấm vệ quân mai phục sẵn trên con đường độc đạo dẫn vào thành. Toán quân ấy sẽ không bao giờ đến được cổng hoàng thành."

Lời khẳng định chắc nịch ấy, phát ra từ chính miệng vị công chúa mà lẽ ra phải đang hoảng loạn vì suýt bị đầu độc, khiến cả đại điện, kể cả Thánh thượng, không khỏi kinh ngạc trước sự trấn tĩnh và tường tận đến từng chi tiết của nàng. Đúng như lời nàng nói, chưa đầy nửa khắc sau, một cấm vệ khác chạy vào báo tin toán quân kia đã bị chặn đứng và giải giáp gọn gàng ngay trên đường, viên phó tướng cầm đầu bị bắt giữ tại chỗ, không một giọt máu nào phải đổ thêm.

Tưởng Bá Khiêm đứng chết lặng giữa đại điện, nhận ra cả hai lớp bài toán mình đã dày công sắp đặt — một lớp bằng độc dược, một lớp bằng binh đao — đều đã bị phá vỡ trước khi kịp phát huy tác dụng, và tệ hại hơn cả, chính miệng ông ta vừa tự khai ra điều không thể chối cãi trước mặt toàn thể triều thần. Không còn đường lui, ông ta nghiến răng, hô lớn ra lệnh cho vài thuộc hạ giấu sẵn binh khí trong người xông ra hòng tạo náo loạn để tẩu thoát.

Nhưng Việt Khôi đã sớm lường trước khả năng này, từ trước đó đã bí mật bố trí thêm không ít cao thủ thân tín trà trộn trong đội ngũ thị vệ bảo vệ đại điện. Chỉ trong chớp mắt, toàn bộ thuộc hạ của Tưởng Bá Khiêm đều bị khống chế gọn gàng, không một ai có thể tiếp cận được gần khu vực Khinh Vũ đang ngồi. Bản thân Việt Khôi cũng nhanh chóng rút kiếm, sải bước đến đứng chắn ngay trước mặt Khinh Vũ, ánh mắt sắc bén quét khắp đại điện đề phòng bất kỳ mối nguy hiểm nào khác có thể bất ngờ xuất hiện. Trong tích tắc ấy, giữa tiếng binh khí va chạm và tiếng quát tháo hỗn loạn xung quanh, chàng khẽ liếc lại phía sau, chỉ một ánh mắt ngắn ngủi trao nhau, đủ để Khinh Vũ nhận ra trong đó không chỉ là trách nhiệm của một người bảo vệ, mà còn cả một nỗi lo sợ rất thật, rất riêng dành cho chính nàng. Nàng khẽ đưa tay nắm lấy vạt áo chàng từ phía sau, một cử chỉ nhỏ nhoi giữa cơn hỗn loạn, như một lời đáp lại không cần thốt thành tiếng.

Vài vị lão thần từng phục vụ dưới thời Vinh Tần nương nương, được Việt Khôi mời đến chờ sẵn trong một căn phòng cạnh đại điện từ trước, cũng được cho ra trình diện đúng lúc để đối chứng thêm, xác nhận trước Thánh thượng và bá quan văn võ về những dấu hiệu bất thường trong cuộc điều tra vụ hỏa hoạn năm xưa, về việc Tưởng Bá Khiêm khi ấy đã ra lệnh đóng hồ sơ vụ án một cách vội vã đến kỳ lạ, bất chấp lời khai của người dân về việc nhìn thấy nhũ mẫu bế đứa trẻ chạy trốn khỏi hoàng cung. Từng lời chứng thực được đưa ra càng khiến tội trạng của Tưởng Bá Khiêm thêm phần rõ ràng, không còn bất kỳ chỗ nào để ông ta có thể chối cãi hay biện minh.

Khinh Vũ bước ra từ phía sau Việt Khôi, đứng thẳng giữa cảnh hỗn loạn vừa lắng xuống, giọng nói vang lên đanh thép, đầy uy nghiêm của một bậc công chúa: "Tưởng Bá Khiêm, hai mươi năm trước, ngươi đã nhẫn tâm sát hại mẫu thân ta cùng bao nhiêu sinh mạng vô tội khác trong biển lửa Vinh Thọ cung, chỉ vì lo sợ một đứa trẻ sơ sinh có thể trở thành trở ngại cho tham vọng quyền lực của ngươi. Hôm nay, ngay tại chính đại điện này, ngươi lại một lần nữa định nhúng tay vào máu, định dùng cả binh đao để bịt miệng sự thật. Nhưng ngươi đã quên mất một điều: kẻ ngươi từng nghĩ chỉ là một đứa trẻ nhu nhược năm xưa, nay đã học được cách tự mình lật ngược mọi ván cờ ngươi bày ra. Sự thật đã được phơi bày, ngươi không còn nơi nào để trốn tránh nữa."

Tưởng Bá Khiêm đứng chôn chân giữa đại điện, mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa trên trán, vòng vây cấm vệ quân siết chặt xung quanh mỗi lúc một thu hẹp hơn, biết rằng mọi con đường đã bị chặn đứng hoàn toàn, không còn bất kỳ lối thoát nào cho ông ta nữa. Hai mươi năm quyền lực tưởng chừng bất khả xâm phạm, giờ đây sụp đổ chỉ trong một buổi sáng, trước sự chứng kiến của toàn thể triều đình, khép lại một chương đen tối nhất trong lịch sử ngầm của Đại Ninh, đồng thời mở ra cánh cửa công lý mà Sầm Khinh Vũ đã kiên trì tìm kiếm suốt cả một hành trình dài đầy máu và nước mắt.

Đương kim Thánh thượng, sau khi nghe hết toàn bộ lời tấu trình cùng các bằng chứng và lời đối chứng của những vị lão thần, đứng dậy khỏi ngai vàng, gương mặt đầy phẫn nộ lẫn xót xa khi nhớ lại người phi tần dịu dàng mình từng hết mực sủng ái năm xưa. "Tưởng Bá Khiêm," người tuyên bố, giọng vang vọng khắp đại điện, "ngươi đã phản bội lòng tin của triều đình, sát hại một phi tần vô tội cùng đứa con thơ của nàng, rồi hai mươi năm qua vẫn ngang nhiên đứng trong hàng ngũ trọng thần, tiếp tục giăng bẫy hãm hại chính giọt máu hoàng tộc mà ngươi từng muốn diệt trừ, thậm chí hôm nay còn dám điều động binh mã hòng gây biến loạn giữa chốn kinh thành. Tội ác của ngươi trời không dung, đất không tha, quả nhân nhất định sẽ để pháp luật xét xử ngươi một cách công minh nhất."

Lời tuyên bố ấy vang lên như một hồi chuông báo hiệu sự cáo chung của cả một thế lực từng khuynh đảo triều chính suốt hai mươi năm, khiến không ít quan lại từng ngầm ủng hộ hoặc e dè trước quyền uy của Tưởng Bá Khiêm đều cúi gằm mặt, không dám lên tiếng bênh vực dù chỉ nửa lời.

Đã sao chép liên kết chương