Chương 4
Chương 4 — Giữa Hai Đường Băng
Tám năm trước, đài kiểm soát không lưu Bạch Lũng không có phòng nghỉ riêng cho học viên thực tập, chỉ có một chiếc ghế phụ kê sát tường, đủ để Bội Thư — khi đó hai mươi sáu tuổi, mới hoàn thành khóa lý thuyết được ba tháng — ngồi quan sát ca trực đêm của người hướng dẫn mình mà không chạm vào bất kỳ thiết bị nào.
Mưa đổ xuống mái tôn phía trên phòng radar từ chín giờ tối, không lớn, nhưng đều, kèm theo một lớp mây thấp trùm kín cả thung lũng nơi sân bay Bạch Lũng nằm giữa hai dãy núi. Doãn Khắc Thuyên ngồi ở vị trí chính, giọng ông trầm và chắc, thứ giọng khiến Bội Thư khi đó tin rằng chỉ cần nghe theo, mọi thứ sẽ ổn.
"Hai chuyến cùng lúc tối nay," ông nói với cô lúc đổi ca, không quay đầu lại, mắt vẫn dán vào màn hình. "Một chuyến hàng đang xin hạ cánh sớm hơn lịch vì tránh vùng áp thấp phía nam, một chuyến huấn luyện bay đêm của trường bay, học viên đang bay bài tiếp cận cuối khóa."
Chuyến huấn luyện mang số hiệu gọi là Echo Tám Mốt, một chiếc máy bay hai động cơ nhỏ, trên khoang chỉ có hai người: giáo viên bay ngồi ghế phải, và học viên hai mươi hai tuổi tên Kha Nhật Viễn ngồi ghế trái, đang thực hiện bài bay đêm bắt buộc cuối cùng trước khi đủ điều kiện thi lấy bằng thương mại.
Bội Thư từng gặp Nhật Viễn hai lần trước đó, trong phòng chờ phi công của trường bay, nơi cô đôi khi ghé qua lấy tài liệu khí tượng. Cậu ta có thói quen gõ ngón tay lên mặt bàn theo nhịp một bài hát nào đó chỉ mình cậu nghe thấy, và từng hỏi cô, nửa đùa nửa thật, rằng làm kiểm soát viên không lưu có bao giờ thấy tiếc vì không được tự mình cầm lái hay không. Cô đã trả lời rằng cô thích đứng ở vị trí nhìn thấy toàn bộ bức tranh hơn là chỉ nhìn thấy một phần bầu trời qua khung kính buồng lái. Cậu ta cười, nói cô nói chuyện như một người già hơn tuổi thật nhiều.
Thuyên là người đã nhận cô vào chương trình thực tập tại Bạch Lũng, người đã kiên nhẫn giảng lại từng quy tắc phân cách cho đến khi cô có thể đọc thuộc lòng mà không cần nhìn tài liệu. Với cô khi đó, ông không chỉ là người hướng dẫn, mà là hình mẫu của một kiểm soát viên lý tưởng: bình tĩnh tuyệt đối, không bao giờ để lộ ra bất kỳ dấu hiệu nào của sự hoảng loạn, kể cả trong những ca trực căng thẳng nhất. Chính sự tin tưởng tuyệt đối ấy, sau này cô mới hiểu, cũng là thứ đã khiến cô im lặng đêm hôm đó.
"Echo Tám Mốt, Bạch Lũng đài, tiếp tục hạ độ cao một nghìn năm trăm bộ, chuẩn bị tiếp cận cuối đường băng ba lăm."
"Hạ một nghìn năm trăm, chuẩn bị tiếp cận, Echo Tám Mốt," giọng đáp lại trẻ, có chút căng thẳng dễ nhận ra của người mới bay đêm lần đầu trong thời tiết không hoàn hảo.
Trên màn hình radar cũ kỹ của Bạch Lũng — cũ hơn cả chiếc mà sau này Bội Thư sẽ ngồi trước ở Trà Sơn — chấm sáng của Echo Tám Mốt di chuyển chậm, đều, gần như hoàn hảo trên đường tiếp cận lý thuyết. Nhưng Bội Thư, ngồi ở ghế phụ, nhận thấy một điều: khoảng cách giữa các lần cập nhật vị trí của chấm sáng ấy đang dần lệch khỏi đường trung tâm, một độ lệch nhỏ, chỉ vài trăm mét, có thể chỉ là nhiễu tín hiệu, có thể là gió tạt.
Cùng lúc đó, chuyến hàng đang xin phép đổi hướng gấp vì mây giông phía nam đến gần hơn dự báo, và Thuyên đang bận trả lời, giọng ông nhanh hơn bình thường, tay gõ liên tục trên bàn phím để cập nhật kế hoạch bay mới.
Bội Thư nhìn chấm sáng của Echo Tám Mốt lệch thêm một chút nữa. Cô mở miệng, định nói.
Rồi cô nhìn sang Thuyên — người đã có hai mươi hai năm kinh nghiệm, người mà cô ngưỡng mộ đến mức đôi khi cảm thấy chính phán đoán của mình quá non nớt để lên tiếng giữa lúc ông đang xử lý một tình huống khác — và cô nghĩ, chỉ là gió thôi, ông ấy chắc đã thấy, ông ấy luôn thấy mọi thứ trước cả khi nó xảy ra.
Cô không nói gì.
Ba mươi giây sau, radio phát ra giọng của giáo viên bay trên Echo Tám Mốt, không còn vẻ bình tĩnh nghề nghiệp nữa mà gấp gáp, gần như hét lên qua tiếng động cơ: "Bạch Lũng, Echo Tám Mốt, chúng tôi mất độ cao đột ngột, gió giật mạnh, đang cố gắng..."
Câu nói đứt quãng ở đó. Không có gì tiếp theo, ngoài tiếng rè của tần số mở, kéo dài, rồi im bặt.
Thuyên buông tay khỏi bàn phím kế hoạch bay, chuyển ngay sang tần số khẩn, gọi liên tục. "Echo Tám Mốt, Bạch Lũng đài, nghe rõ trả lời. Echo Tám Mốt, nghe rõ trả lời."
Không có phản hồi.
Ông với điện thoại nội bộ, gọi trực ban sân bay, giọng đã đổi khác hoàn toàn, cứng và nhanh: "Kích hoạt phương án khẩn cấp, khu vực tiếp cận cuối đường băng ba lăm, mất liên lạc với Echo Tám Mốt, nghi ngờ tai nạn."
Bội Thư ngồi bất động trên ghế phụ, hai tay nắm chặt vào mép ghế, mắt vẫn dán vào màn hình nơi chấm sáng của Echo Tám Mốt đã biến mất khỏi khu vực hiển thị, để lại một khoảng trống nhỏ giữa những đường lưới tọa độ vẫn hiện diện thản nhiên như chưa từng có gì ở đó.
Xe cứu hỏa và xe cứu thương rời khỏi trạm trực trong vòng chưa đầy hai phút, đèn xanh đỏ quét qua lớp kính phòng radar, phản chiếu loang loáng trên bề mặt màn hình. Bội Thư nhớ mình đã đứng dậy, không phải vì có ai bảo cô làm vậy, mà vì cơ thể cô cần làm một điều gì đó khác ngoài việc ngồi nhìn khoảng trống trên màn hình.
"Ngồi xuống," Thuyên nói, không quay lại nhìn cô, giọng ông vẫn giữ được sự kiểm soát đáng kinh ngạc dù bàn tay đặt trên bàn phím đang run nhẹ. "Chúng ta còn một chuyến hàng đang trên không. Việc của em bây giờ là quan sát, không phải hoảng loạn."
Cô ngồi xuống. Cô làm đúng như ông nói, suốt bốn mươi phút tiếp theo, cho đến khi chuyến bay còn lại hạ cánh an toàn và một kiểm soát viên khác được gọi đến thay ca khẩn cấp.
Đội cứu hộ tìm thấy xác máy bay cách đường tiếp cận cuối gần một cây số, trong một thung lũng nhỏ khuất sau rặng cây mà bản đồ địa hình khu vực không đánh dấu là điểm nguy hiểm đặc biệt. Giáo viên bay sống sót với chấn thương nặng. Kha Nhật Viễn, hai mươi hai tuổi, không qua khỏi.
Sáng hôm sau, khi ca trực đêm kết thúc, Bội Thư gặp Thuyên ở bãi xe, cả hai đều chưa kịp ngủ, mắt ông đỏ và trũng sâu hơn bất kỳ lúc nào cô từng thấy. Ông không nói nhiều. Ông chỉ đứng đó, tay cầm chìa khóa xe nhưng không mở cửa, nhìn ra phía đường băng còn ướt sương, nơi một chiếc xe cứu hỏa vẫn đang neo lại gần khu vực hiện trường đã được rào chắn.
"Đáng lẽ tôi phải chia sự chú ý tốt hơn," ông nói, gần như thì thầm, không hẳn là nói với cô. "Hai chuyến cùng lúc, trong thời tiết đó, tôi không nên để bản thân bị cuốn hết vào chuyến hàng."
"Chú đã làm đúng quy trình," Bội Thư nói, câu nói duy nhất cô có thể nghĩ ra lúc đó, và cũng là câu cô sẽ nghe chính mình lặp lại, theo một cách khác, tám năm sau, khi Chương Bá Vọng nói điều tương tự với cô trong văn phòng ở Trà Sơn.
Thuyên gật đầu, không phản bác, nhưng ánh mắt ông cho thấy ông không thực sự tin vào điều đó, dù kết luận điều tra sau này có nói gì đi nữa. Ông mở cửa xe, rồi dừng lại một giây, nhìn cô. "Cảm ơn em đã ngồi yên đêm qua, không hoảng loạn. Không phải ai cũng làm được vậy trong ca thực tập đầu tiên chứng kiến việc này."
Bội Thư không nói cho ông biết rằng "ngồi yên" không phải vì cô bình tĩnh. Cô đã không nói được lời nào trong ba mươi giây quan trọng nhất của cả đêm hôm đó, và sự im lặng ấy, ông gọi là điềm tĩnh, còn cô, tám năm sau, vẫn chưa tìm được một cái tên khác chính xác hơn để gọi nó.
Kết luận điều tra chính thức, công bố bốn tháng sau, ghi rằng nguyên nhân là tổ hợp của gió giật bất thường không được dự báo đầy đủ, khả năng học viên bay mất phương hướng trong điều kiện tầm nhìn hạn chế ban đêm, và một khoảng trễ nhỏ trong việc phát hiện độ lệch quỹ đạo do giới hạn kỹ thuật của thiết bị radar khi đó. Doãn Khắc Thuyên được xác định đã tuân thủ đúng quy trình trong toàn bộ ca trực. Không có bất kỳ dòng nào trong báo cáo dày một trăm hai mươi trang nhắc đến một học viên thực tập từng ngồi ở ghế phụ, người đã nhìn thấy một chấm sáng lệch khỏi đường trung tâm ba mươi giây trước khi mọi thứ sụp đổ, và đã chọn im lặng.
Bội Thư chưa từng kể với ai về ba mươi giây đó. Không phải vì cô nghĩ nó sẽ thay đổi kết luận điều tra — cô đã tự thuyết phục mình đủ nhiều lần rằng ngay cả khi cô lên tiếng, Thuyên với hai mươi hai năm kinh nghiệm có lẽ cũng sẽ đưa ra đánh giá tương tự, rằng đó chỉ là nhiễu tín hiệu, rằng gió giật địa hình vốn khó lường trước bằng bất kỳ thiết bị nào thời điểm đó. Cô không kể vì mỗi lần định mở miệng, cô lại nghe thấy chính giọng nói của mình trong đầu, từ đêm hôm đó: chỉ là gió thôi, ông ấy chắc đã thấy.
Cô đã tin điều đó đủ lâu để nó trở thành một phần ký ức cô có thể sống chung, cất nó vào một ngăn kéo không mở ra, cho đến chín mươi giây trên màn hình radar ở Trà Sơn tuần trước, khi cô nghe chính học viên của mình ngập ngừng đúng một nhịp trước khi báo cáo một điều bất thường — và cô nhận ra, với một sự rõ ràng lạnh lẽo mà cô chưa từng cho phép mình chạm tới suốt tám năm, rằng cô đã dạy Bách đúng những gì cô ước gì có ai đó đã dạy cô vào đêm đó ở Bạch Lũng: nói ra, ngay cả khi không chắc, ngay cả khi người có kinh nghiệm hơn đang ngồi ngay bên cạnh.
Ngăn kéo ấy, giờ đây, đã không còn đóng kín được nữa.