Chương 4
Chương 4 — Người Kiến Tạo Không Thể Bị Xóa Tên
3. Công ty đã sống sót như thế nào Không có nghĩa là công ty đã thật sự vượt qua cửa ải. Khi lô 500 chiếc máy đầu tiên bước vào giai đoạn sản xuất hàng loạt, vấn đề rò nước ở bình chứa đã được giải quyết. Nhưng một rắc rối mới lại xuất hiện. Máy chạy trên nền gạch men thì hoàn toàn bình thường. Thế nhưng cứ gặp loại sàn epoxy thường dùng trong các trung tâm thương mại, dòng điện của bàn chải lại tăng vọt. Chỉ cần hoạt động liên tục nửa tiếng, động cơ sẽ tự kích hoạt chế độ bảo vệ quá nhiệt. Lúc ấy, hơn 300 chiếc máy đã được lắp ráp hoàn chỉnh. Những thùng hàng chất kín cả nhà kho. Trên mỗi thùng đều in thương hiệu mà chúng tôi vừa đăng ký. Trừng Quang. Lão Hàn cầm bản báo cáo kiểm tra đến tìm tôi.
"Hoặc lùi ngày giao hàng..."
"Hoặc giảm áp lực của bàn chải."
Giảm áp lực của bàn chải thì máy sẽ không lau sạch. Còn nếu lùi thời gian giao hàng... Chúng tôi sẽ mất khách hàng chính thức đầu tiên. Khách hàng đó là một trung tâm thương mại vừa khai trương ở phía nam thành phố. Họ đồng ý đặt hàng không phải vì tin tưởng thương hiệu của chúng tôi, mà vì thiết bị nhập khẩu giao quá chậm, nên cần gấp một sản phẩm thay thế. Tôi cùng đội kỹ sư ở lì dưới tầng hầm trung tâm thương mại suốt ba đêm. Đêm đầu tiên, chúng tôi thay động cơ. Đêm thứ hai, chỉnh lại chương trình điều khiển. Đến đêm thứ ba, lão Hàn đề nghị giảm tốc độ quay của bàn chải. Tôi không đồng ý. Ông ấy sốt ruột.
"Cứ thử kiểu này nữa thì cháy hết động cơ mất. Số tiền còn lại còn chẳng đủ để sửa chữa."
Tôi ngồi xổm bên cạnh chiếc máy, nhìn bàn chải lướt qua một vết bẩn đã khô cứng.
"Không phải do tốc độ quay."
"Là cơ chế bù áp lực phản ứng quá chậm."
"Độ chính xác của cảm biến không đủ."
"Vậy thì đừng để nó tự động bù nữa."
Cuối cùng, chúng tôi lắp thêm một bộ giới hạn cơ học đơn giản nhất. Cũng chẳng tiên tiến. Nhưng nó giúp chiếc máy luôn giữ được áp lực ổn định trên mọi loại mặt sàn. Bốn giờ sáng. Chiếc máy chạy liên tục suốt hai tiếng mà không gặp thêm bất kỳ sự cố nào. Tôi ngồi ở hành lang tối om của trung tâm thương mại, cầm ly nước cam nóng vừa mua từ máy bán hàng tự động. Ly nước ngọt đến mức đắng cả cổ. Thế nhưng đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ rõ hương vị ấy. Bởi sáu ngày sau... Trung tâm thương mại đã chính thức nghiệm thu lô thiết bị đầu tiên. Người phụ trách thanh toán của phía đối tác họ Đỗ. Lần đầu gặp tôi, ông Đỗ còn tưởng tôi là nhân viên kinh doanh. Ông cầm biên bản nghiệm thu hỏi:
"Ông chủ của các cô đâu?"
"Tôi chính là người đó."
Ông ngẩng đầu nhìn tôi một cái, rồi lại cúi xuống nhìn tấm danh thiếp.
"Nữ tổng giám đốc à?"
"Có vấn đề gì sao?"
"Không có gì. Chỉ mong máy của các cô đừng giống công ty các cô, nhìn thì mới mẻ đấy, nhưng hai tháng sau lại chẳng tìm thấy người."
Ngay trước mặt ông ấy, tôi viết số điện thoại của mình vào mặt sau biên bản nghiệm thu.
"Chỉ cần máy ngừng hoạt động một phút, ông cứ gọi vào số này."
Trong sáu tháng đầu tiên... Ông Đỗ đã gọi cho tôi tổng cộng bốn mươi bảy cuộc. Máy phát ra tiếng động lạ, gọi tôi. Bàn chải bị rơi, gọi tôi. Nhân viên vệ sinh chê thao tác quá phức tạp, vẫn gọi tôi. Có lần, một giờ rưỡi sáng, ông gọi báo một chiếc máy làm nước bẩn chảy đầy sàn, yêu cầu sáng hôm sau nhất định phải đổi máy mới. Tôi lái xe đến hiện trường ngay trong đêm. Đến nơi mới phát hiện... Nhân viên vệ sinh đã lắp ngược nắp bình nước sạch với bình nước thải. Tôi không hề giải thích đó là lỗi của ai. Tôi tự tay lau sạch nền nhà. Sau đó hướng dẫn lại toàn bộ quy trình sử dụng cho ca trực đêm. Sang năm thứ hai... Tập đoàn thương mại của ông Đỗ mở thêm sáu dự án mới. Trừng Quang giành được năm dự án trong số đó. Khách hàng đầu tiên của chúng tôi... Đã được giữ lại như thế. Không phải nhờ thương hiệu. Cũng chẳng phải nhờ chiến lược. Mà bởi vì... Ai là người nghe điện thoại. Ai là người có mặt ngay khi máy hỏng. Ai là người giúp khách hàng sáng hôm sau vẫn có thể mở cửa kinh doanh như bình thường. Đến năm thứ ba, dòng tiền của công ty lần đầu tiên cạn kiệt hoàn toàn. Năm ấy, chúng tôi quyết định bước chân vào thị trường gia dụng. Khuôn mẫu đã hoàn thành. Dây chuyền sản xuất cũng đã cải tạo xong. Thế nhưng ngay trước khi ký hợp đồng, quỹ đầu tư từng hứa góp vốn lại đột ngột rút lui. Thời hạn thanh toán cho nhà cung cấp đã đến. Trong khi các kênh phân phối lại yêu cầu thời hạn quyết toán sáu mươi ngày. Bộ phận tài chính gửi cho tôi số dư tài khoản. 1,87 triệu tệ. Trong khi khoản phải thanh toán vào tuần sau là... 6,4 triệu tệ. Lúc đó, Chu Đình Sơn đang ở nước ngoài. Ông nói qua điện thoại sẽ tiếp tục tìm cách xoay xở. Nhưng nhanh nhất cũng phải mất một tháng. Tôi đem căn nhà duy nhất của mình đi thế chấp. Căn hộ ấy không lớn. Chỉ hơn bảy mươi mét vuông. Khoản vay mua nhà cũng vừa trả hết được hai năm. Giám đốc ngân hàng hỏi tôi đã suy nghĩ kỹ chưa. Bởi rủi ro trong hoạt động kinh doanh không được xem là mục đích vay tiêu dùng thông thường.
"Tôi chắc chắn."
Bốn triệu hai trăm nghìn tệ được giải ngân. Việc đầu tiên tôi làm là trả lương nhân viên. Sau đó thanh toán cho những nhà cung cấp cốt lõi. Nhưng vẫn còn thiếu... 700.000 tệ. Khi ấy, Thiệu Lam mới vào công ty được một năm, phụ trách chuỗi cung ứng. Cô ôm một chồng giấy đòi nợ chạy đến tìm tôi.
"Chủ xưởng nhựa đã giữ lại toàn bộ khuôn của chúng ta."
"Ông ta nói, nếu hôm nay tiền vẫn chưa đến tài khoản, ngày mai sẽ chuyển dây chuyền sản xuất cho khách hàng khác."
"Bây giờ điều họ thiếu nhất là gì?"
Thiệu Lam ngẩn người.
"Đơn hàng."
"Tôi tưởng họ vẫn có đơn hàng?"
"Khách hàng lớn của họ vừa ép giá. Một trong hai dây chuyền hiện đang bỏ không."
Ngay trong đêm... Tôi sửa lại toàn bộ kế hoạch sản xuất.