Vệt Sáng Ngoài Đường Băng
9 phút đọc

Chương 11

Chương 11

Hai ngày không phải là một khoảng thời gian. Nó là một danh sách việc phải làm, một số người phải ký và một cửa sổ thời tiết có thể đóng bất kỳ lúc nào.

Nghi chia bảng công việc thành bốn cột. Đo hình học ngoài sân. Kiểm tra điện và chuyển nguồn. Rà hồ sơ tám năm. Ghi nhận hoạt động và các báo cáo miệng chưa vào hệ thống.

“Em ở cột nào?” Uyên hỏi.

“Cột thứ tư với chị, sau đó tự làm ma trận đo.”

Uyên nhìn danh sách. “Tự làm có nghĩa chị không xem trước?”

“Chị xem phương pháp, không sửa kết quả.”

“Nếu em đo sai?”

“Ghi sai ở đâu.”

Uyên hít vào. “Được.”

Duy nhận phần rà log tháp. Lan nhận hiện trường và mực nước. Kha nhận báo cáo vận hành sân đỗ, lần này không chỉ giữ đường. Hân làm đầu mối dữ liệu hãng và tìm người có thể chụp từ góc cao khi không có mưa.

Tòng ký lệnh thành lập nhóm kiểm chứng. Ông thêm một dòng: “Mọi dữ liệu giữ bản gốc, không thay ảnh bằng bản đã chú thích.”

Nghi đọc, hỏi: “Ai lưu?”

“Bộ phận kỹ thuật.”

“Tên người?”

Tòng viết tên mình.

Buổi sáng, Uyên dựng lại ma trận ảnh. Cô dùng dây mảnh theo mép thực, đo từ mốc tới từng đèn, ghi phương vị bằng thiết bị cầm tay. Lần đầu, sai số giữa hai lần đo là chín milimet. Nghi hỏi cô đã cố định chân máy chưa.

“Chưa đủ.”

“Làm lại.”

Uyên làm. Lần thứ hai sai số còn hai milimet. Cô nhìn Nghi, chờ một lời khen. Nghi chỉ hỏi: “Ghi cả lần đầu không?”

“Có.”

“Tốt.”

“Chị không nói em làm tốt?”

“Em đã biết mình đo sai ở đâu. Đó là phần tốt.”

Uyên cười. “Chị khen kiểu này khiến người ta phải tự khen mình.”

“Tự khen có bằng chứng là kỹ năng.”

Lan cùng hai nhân viên đi dọc mương. Bà đo mực nước theo cùng một cọc, nhưng đổi vị trí quan sát để biết cọc có lún không. Một nhân viên hỏi tại sao không dùng cảm biến.

“Có cảm biến rồi,” Lan nói. “Nhưng cảm biến không biết mình đã cắm vào nền nghiêng.”

Họ tìm thấy một rãnh nước mới nối tới chân hộp số 17. Rãnh chỉ rộng bằng bàn tay nhưng mang phù sa từ đầm. Lan chụp ảnh, đánh dấu. Đất không sạt lớn. Nó chỉ đổi từng chút, đủ để kéo những thứ được thiết kế với giả định mọi thứ đứng yên.

Duy ở tháp mở các báo cáo cũ theo từ khóa. Anh tìm thêm ba bản. Một phi công ghi “mép ánh sáng như mở ra”; một nhân viên báo “đèn cuối phía tây sáng không đồng thời”; một bản không có tên người ghi, chỉ ghi ca trực và thời gian.

Anh gọi Nghi. “Có thêm dữ liệu.”

“Gửi bản gốc.”

“Một bản không có người ký.”

“Gửi cả.”

“Nếu người ta hỏi bản đó có giá trị không?”

“Nó có giá trị như một dấu hiệu. Không phải kết luận.”

Duy nhắc lại câu đó, rồi nói: “Tôi bắt đầu ghét việc mọi thứ phải phân loại.”

“Phân loại giúp biết mình còn thiếu gì.”

“Và cũng có thể làm người ta vứt những thứ không vừa ô.”

Nghi im. Duy đã chạm đúng điểm.

Kha rà sổ sân đỗ. Anh tìm được tên của những nhân viên từng báo đèn, nhưng nhiều người đã chuyển ca hoặc nghỉ. Anh gọi từng người. Có người nói không nhớ. Có người nói đã báo miệng. Có người chỉ hỏi có được nhắc tên không.

Kha trả lời: “Nếu anh chị muốn, nhóm sẽ ghi rõ người cung cấp. Nếu không, chúng tôi ghi nhận ẩn danh nhưng không coi đó là xác nhận.”

Một nhân viên cũ tên Phúc nói anh từng nhìn thấy đèn lệch sau khi mưa, nhưng cấp trên bảo đừng ghi vì “chỉ là nền phản sáng”. Kha hỏi ai nói. Phúc xin không nêu tên. Kha ghi nguyên văn, không ép.

Cuối ngày, nhóm họp. Dữ liệu bắt đầu tạo thành hình: nền lún theo mùa, hộp nối lệch, cáp bị kéo, lỗi hình học rõ hơn khi chuyển nguồn, báo cáo cũ lặp cùng khu vực.

Nghi viết lên bảng: “Mạch W-3 có vấn đề vận hành?”

Uyên nói: “Câu hỏi đó rộng.”

“Vậy sửa.”

Uyên cầm bút: “Hệ thống W-3 có thể duy trì hình học đèn biên ổn định trong điều kiện nền ẩm và chuyển nguồn không?”

Duy gật. “Câu hỏi đo được.”

Tòng đứng ở cửa, nghe. “Nếu câu trả lời là không?”

Nghi đáp: “Chúng ta phải nêu giới hạn khai thác.”

“Nếu câu trả lời là có nhưng chưa đủ dữ liệu?”

“Không xác nhận.”

Tòng nhìn bảng. “Hai ngày không đủ lặp mọi điều kiện.”

“Vậy báo cáo phải nói chưa đủ.”

Hân xuất hiện với một tài liệu của hãng. Hãng có thể bố trí một phi công kiểm tra bằng mô phỏng trên thiết bị mặt đất, không sử dụng chuyến bay chở khách. Người phi công sẽ xem chuỗi ảnh và đánh giá liệu vệt sáng có làm khó phân biệt mép sân trong điều kiện giả lập.

Nghi hỏi: “Đánh giá đó là dữ liệu kỹ thuật hay ý kiến?”

“Là ý kiến nghề nghiệp có phương pháp,” Hân đáp. “Không thay thế phép đo, nhưng giúp hiểu hậu quả.”

Tòng hỏi chi phí. Hân trả lời cụ thể. Ông tính trên máy tính, rồi gật đầu.

“Làm,” ông nói.

Buổi tối, Uyên tự ký vào bảng ma trận với tư cách người đo. Cô nhìn tên mình dưới dòng “người thực hiện”, hỏi Nghi: “Nếu mai họ phát hiện em ghi sai?”

“Họ sẽ chỉ ra dòng nào.”

“Nếu họ không chỉ mà chỉ bảo em chưa đủ kinh nghiệm?”

“Em hỏi họ muốn sửa số hay sửa người.”

Uyên cười không nổi. Nghi đặt tay lên bảng, chỉ vào cột phương pháp. “Kinh nghiệm không phải giấy phép để người khác bỏ qua dữ liệu của em. Nhưng dữ liệu của em cũng phải chịu được kiểm tra.”

Uyên nhìn lại các con số. “Vậy em sẽ chịu.”

Đêm xuống, bảng công việc còn nhiều ô chưa đánh dấu. Ngoài sân, mực nước tiếp tục dâng. Trong tháp, Duy nghe lại bản ghi radio cũ. Ở sân đỗ, Kha gọi cho một người không có tên trong sơ đồ nhân sự. Ở phòng lưu trữ, Vực tìm những bản đề nghị sửa đã gửi mà không có hồi âm.

Hai ngày không tự tạo ra sự thật. Nó chỉ buộc mọi người ngừng nói rằng mình không có thời gian để tìm.

Ngày thứ ba bắt đầu bằng việc một số người phải làm lại phần mình tưởng đã xong. Uyên phát hiện hai ảnh của camera cao dùng mốc thời gian lệch bốn phút vì thiết bị chưa đồng bộ. Cô báo ngay, dù điều đó có nghĩa phải liên hệ Hân xin bản gốc và dựng lại ma trận.

“Em sợ bị hỏi sao không kiểm từ đầu,” Uyên nói.

Nghi đáp: “Nếu em giấu, người ta sẽ dùng ảnh sai. Báo sớm là phần đúng nhất em làm hôm nay.”

Hân gửi bản dữ liệu, không trách. Cô chỉ yêu cầu ghi nguồn thay thế và lý do đổi. Uyên cập nhật phiên bản, đánh dấu bản cũ không dùng để kết luận. Tòng nhìn bảng thay đổi, hỏi nếu cứ sửa mãi thì báo cáo bao giờ hoàn thành.

Nghi nói: “Khi người đọc biết bản nào dùng được và bản nào bị loại.”

“Không phải khi không còn lỗi?”

“Không có bộ dữ liệu nào tự nhiên sạch.”

Đội độc lập từ đơn vị đo tới vào buổi trưa. Họ không chỉ đọc báo cáo; họ hỏi cách đặt mốc, tình trạng nền, nhiệt độ hộp nối và quyền truy cập ảnh. Người phụ trách tên Đỗ Khôi, không biết Vực và không phụ thuộc lịch khai thác. Khôi yêu cầu Nghi không đứng cạnh khi Uyên trình bày.

Uyên nói về ma trận ảnh, bản đồ cũ, mực nước và hai chu kỳ nguồn. Khôi hỏi vì sao cô loại một ảnh.

“Thiết bị lệch giờ,” Uyên đáp.

“Nếu không phát hiện?”

“Bản kết luận sẽ chứa khoảng cách thời gian sai.”

Khôi gật. “Ai phát hiện?”

“Em.”

“Ghi tên người phát hiện.”

Uyên nhìn Nghi rồi tự nói: “Đã ghi.”

Khôi đưa nhóm ra hiện trường. Lan yêu cầu ông đứng trên nền bê tông trước khi đi qua mương. Ông không coi đó là làm chậm; ông hỏi cách kiểm tra lối. Lan chỉ, rồi ông làm theo.

Đến hộp số 17, Khôi không mở ngay. Ông đo mốc đối chứng, đo cọc, chụp hướng nước. Khi mở hộp, ông yêu cầu Nghi đứng cách một khoảng, để người ghi có thể nhìn thao tác. Kỹ thuật không phải màn trình diễn, nhưng nếu chỉ một người biết mình đã chạm gì, hồ sơ sẽ thiếu.

Khôi đọc chỉ số đầu nối nóng, hỏi thiết bị đã hiệu chuẩn chưa. Nghi đưa giấy kiểm định. Ông không nói “tốt”. Ông ghi phạm vi tin cậy và đề nghị đo lại sau khi hộp được thay.

Tòng nghe chi phí, hơi nhăn mặt. Hân hỏi có thể chia các bước. Khôi nói có thể xử lý hộp và mạch trước, nhưng mở lại đêm vẫn cần kiểm hình học và nguồn.

Nghi hỏi: “Nếu kinh phí chỉ đủ thay hộp?”

Khôi đáp: “Thì báo cáo chỉ xác nhận hộp đã thay, không xác nhận đường băng đã sẵn sàng.”

Tòng gật, dù câu trả lời làm ông mất thêm một phương án.

Buổi chiều, Hạnh? Nghi tự thấy mình định gọi nhầm một nhân viên trong nhóm cũ, rồi sửa thành Uyên. Không ai cười. Cô nhận ra những cái tên có thể thay đổi khi vai trò thay đổi; người học việc hôm đầu giờ đã là người giữ một phần hồ sơ.

Uyên hỏi: “Chị vừa định gọi ai?”

“Không quan trọng.”

“Có thể quan trọng nếu tên người quyết định.”

Nghi dừng. Cô nói tên một kỹ thuật viên cũ đã chuyển việc, giải thích vì mệt nên nhầm. Uyên ghi vào sổ giao ca, không phải để phê bình, mà để báo rằng Nghi đã chỉnh người phụ trách trong danh sách.

Tòng nhìn hành động đó. “Cô không cần ghi mọi lần mình nói nhầm.”

“Nếu câu nói nhầm làm sai trách nhiệm, cần.”

Khôi đề nghị lập ba biên bản riêng: hiện trạng, sửa chữa, xác nhận sau sửa. Không gộp để tránh bản cuối xóa mất tình trạng trước. Nghi đồng ý. Vực gửi thêm tài liệu cũ, được xếp vào phần lịch sử chứ không chen vào kết quả đo.

Đêm đó, Nghi viết bản cập nhật cho tỉnh. Cô nói rõ những gì đã biết, chưa biết và có thể làm trong bảy ngày. Cô không hứa ngày mở lại; cô hứa ngày báo cáo tiếp theo.

Tòng đọc, thêm một dòng về tác động nhân viên và kho lạnh. Hân thêm tình trạng khung chuyến. Kha thêm giới hạn xe. Lan thêm mực nước.

Bản cập nhật dài sáu trang.

Không ai gọi nó là đẹp. Nhưng nếu một người chỉ đọc sáu trang đó, họ cũng biết sân bay đang làm gì, chưa làm gì và vì sao không thể dùng chiếc bảng xanh để trả lời thay cả mặt đất.

Đã sao chép liên kết chương