Chương 6
Chương 6
Bản đồ hiện hành có màu xanh. Bản đồ cũ có màu đỏ. Cả hai đều được đóng dấu của sân bay Vàm Chân.
Nghi trải chúng trên sàn phòng lưu trữ vì chiếc bàn duy nhất đã bị Tòng mượn để đặt hồ sơ mở tuyến. Bụi bám vào góc giấy. Một đường xanh chạy thẳng từ tủ nguồn tới mạch W-3, sạch sẽ và quyết đoán. Đường đỏ vòng qua vùng lún, có những dấu chấm không đều, giống như người lập bản đồ đã phải dừng lại nhiều lần để nhìn nền đất.
Uyên ngồi bên cạnh, cẩn thận đặt túi nhựa lên từng bản. “Bản đỏ có ngày tám năm trước. Bản xanh không có ngày.”
“Không có ngày là một thông tin.”
“Có thể họ quên ghi.”
“Có thể. Nhưng không được tự điền ngày thay họ.”
Hồ Bội Lan mang vào một hộp hồ sơ nhỏ. Bên ngoài ghi “sửa nền khu W, đợt 2”. Bà đặt hộp xuống, phủi tay.
“Tôi tìm thấy trong kho cũ,” Lan nói. “Bị kẹp sau biên bản mương thoát nước.”
Nghi mở. Bên trong có ảnh nền sau đợt lún, danh sách vật liệu, một báo giá thay cáp và biên bản nghiệm thu tạm. Ảnh chụp lúc mặt đất còn bùn, cọc đèn nghiêng rõ. Một người đứng bên cạnh hộp số 17, tay cầm thước. Khuôn mặt bị bóng che, nhưng dáng vai Nghi nhận ra.
Ngô Thành Vực.
Uyên khẽ hỏi: “Chị có muốn em ra ngoài không?”
“Không.”
“Vì ông ấy là thầy chị?”
Nghi nhìn ảnh. “Vì ông ấy có thể giải thích.”
Vực được gọi tới vào buổi chiều. Ông vẫn đi chậm nhưng không dùng gậy. Mái tóc bạc nhiều hơn lần Nghi gặp ông ở đám tang một đồng nghiệp. Ông nhìn hai bản đồ, rồi không hỏi ai đã tìm thấy.
“Các em mở hộp số 17 chưa?” ông hỏi.
“Mở rồi,” Nghi đáp.
“Dây có dấu kéo?”
“Có.”
“Hộp có dấu ẩm?”
“Có.”
Vực gật, như thể ông đã nghe một câu chuyện quen. “Vậy bản đồ cũ đúng hơn.”
Uyên nhìn ông. “Tại sao bản đồ hiện hành không có ngày?”
Vực không trả lời ngay. Ông tháo kính, lau bằng khăn vải. Nghi thấy tay ông hơi run.
“Sau khi sửa nền, chúng tôi chuyển tuyến cáp qua phía bắc để tránh vùng lún. Không thay được toàn bộ mạch, nên dùng nhánh hiện có. Bản đồ đỏ là phương án thi công. Bản đồ xanh là bản dùng cho vận hành.”
“Ai vẽ bản xanh?” Nghi hỏi.
“Một kỹ sư thuê ngoài.”
“Có đo lại vị trí hộp không?”
“Có đo theo mốc tạm.”
“Mốc tạm nào?”
Vực nhìn về phía Lan. “Cọc sơn trắng gần mương.”
Lan bật cười ngắn. “Cọc đó đã trôi xuống mương trong mùa nước sau.”
Vực khép mắt. “Tôi không biết.”
“Ông không quay lại kiểm tra?” Nghi hỏi.
“Tôi phụ trách chạy lại mạch. Có điện. Cọc vẫn nhìn thấy từ đường. Chúng tôi cần mở sân trước mùa cao điểm.”
“Ông đã ký nghiệm thu.”
“Tôi biết.”
Nghi đặt ảnh xuống. “Ông cũng ký bản đồ xanh.”
“Tôi ký vì đó là bản đưa vào vận hành.”
“Không có ngày, không có tọa độ, không có xác nhận hình học.”
Vực nhìn cô. “Ngày đó chúng ta không có thiết bị đo như bây giờ.”
“Nhưng có mắt.”
“Mắt của người đứng trên nền lún không đủ để đo dịch chuyển.”
“Vậy sao ông ký?”
Không khí trong phòng lưu trữ đặc lại. Uyên ngừng viết. Lan nhìn xuống hộp hồ sơ. Vực không nổi giận. Ông chỉ già đi rõ rệt trong vài giây.
“Vì tôi nghĩ phương án tạm sẽ kéo dài ba tháng,” ông nói. “Tỉnh đã nói sẽ cấp vốn. Hãng bay cần sân bay hoạt động. Công nhân cần ca làm. Tôi nghĩ nếu mình không ký, họ sẽ đóng sân. Nếu ký, chúng ta có thời gian sửa.”
“Tám năm là thời gian sửa?”
“Không.”
“Vậy là gì?”
“Là tám năm của những lần gia hạn.”
Nghi quay mặt đi. Cô nhớ Vực từng nói không được gọi một mối nối tạm là vĩnh viễn. Ông đã dạy cô dùng đúng tên cho thiết bị, nhưng lại ký một hệ thống tạm theo cách khiến nó mang tên hệ thống thật.
Tòng bước vào, nghe đoạn cuối. Ông hỏi: “Có tài liệu đề nghị sửa toàn bộ không?”
Vực gật, chỉ vào hộp. “Báo giá nằm dưới ảnh.”
Nghi lấy ra. Thay toàn bộ mạch và hộp nối có chi phí cao hơn dự kiến, nhưng không phải con số không thể tưởng tượng. Phần khó là lịch thi công, đóng sân, di dời tuyến cáp và làm lại các mốc.
Tòng đọc. “Đề nghị này đã gửi chưa?”
“Đã gửi.”
“Ai nhận?”
“Bộ phận kế hoạch.”
“Có trả lời không?”
“Họ nói sẽ xem xét sau mùa cao điểm.”
Tòng lật đến cuối. Chữ ký của Vực ở phần xác nhận thiết bị có thể khai thác có giám sát.
Nghi hỏi: “Giám sát là ai?”
Vực nói: “Trưởng ca kỹ thuật.”
“Trưởng ca đã ghi cách giám sát chưa?”
“Không.”
“Vậy câu đó có nghĩa gì?”
Vực tháo kính. “Nó có nghĩa chúng tôi tin mình sẽ nhìn thấy vấn đề trước khi nó trở nên nguy hiểm.”
Lan đập nhẹ tay lên hộp hồ sơ. “Đất đã báo bằng cách lún. Cáp đã báo bằng cách kéo. Đèn đã báo bằng cách lệch. Chỉ có giấy là không nghe.”
Tòng không cãi.
Nghi đề nghị lập biên bản lời giải thích của Vực. Ông ký mà không đọc lại lâu. Khi bút chạm giấy, Nghi thấy mình muốn ngăn ông, như ngày còn học việc cô từng muốn lấy hộp dụng cụ khỏi tay ông khi ông mệt. Cô không ngăn.
Vực đứng lên. “Nghi.”
“Vâng.”
“Cô có nghĩ tôi nên thôi cố vấn không?”
“Cháu nghĩ ông nên để lại toàn bộ hồ sơ.”
“Chỉ vậy?”
“Cháu chưa biết phần còn lại.”
Vực gật. “Đúng. Cô không còn là học trò cần câu trả lời sạch.”
Ông đi ra. Uyên nhìn theo. “Chị có ghét ông ấy không?”
Nghi xếp bản đồ đỏ lên bản xanh. “Chị đang cố không dùng một từ đơn giản cho một việc kéo dài tám năm.”
“Nhưng ông ấy đã ký.”
“Đúng.”
“Và ông ấy không nói.”
“Đúng.”
“Vậy có cần nói thêm không?”
Nghi nhìn chữ ký của Vực. “Cần. Không phải để biến ông ấy thành người xấu. Để biết quyết định nào đã làm cái tạm kéo dài.”
Ở cuối hộp hồ sơ, Uyên tìm thấy một trang ghi tên những người từng nhận bàn giao bản đồ. Có ba dòng bị xé mất. Chỉ còn ngày tháng và chữ ký người nhận.
Một trang khác dính dưới đáy hộp, ghi: “Kiểm tra lại khi mực nước xuống.”
Không có ngày kiểm tra.
Không có chữ ký.
Nghi đặt trang giấy vào túi hồ sơ mới. Bản đồ hai màu không còn là câu chuyện về một người đã vẽ sai. Nó là câu chuyện về một phương án tạm được chuyền qua nhiều bàn tay cho đến khi không ai còn nhớ mình đang giữ điều gì.
Vực gọi cho ba người từng tham gia đợt sửa nền. Người đầu tiên nhớ xe thi công không thể vào phía bắc. Người thứ hai nhớ có một hộp được nâng lên bằng tấm kê, nhưng không chắc là hộp số 17. Người thứ ba nói ông chỉ nhận bản đồ để ký bàn giao, không được xem hiện trường.
Nghi ngồi bên cạnh, ghi thời gian cuộc gọi và câu trả lời. Vực không dùng giọng của người thầy. Ông hỏi như một người đang cố lắp lại một thiết bị đã tháo rời quá lâu.
“Anh có giữ ảnh không?” ông hỏi người thứ hai.
“Có thể trong máy cũ.”
“Anh kiểm tra được không?”
“Tôi không muốn dính vào.”
Vực im. Nghi nói: “Chúng tôi không yêu cầu anh nhận lỗi. Chúng tôi chỉ cần biết ảnh có tồn tại.”
Người kia hỏi: “Nếu ảnh cho thấy chúng tôi làm sai?”
“Chúng tôi ghi đúng bối cảnh và người thực hiện. Sai kỹ thuật cần được sửa; không phải biến thành lý do để xóa dữ liệu.”
Người kia hứa tìm. Vực ghi số điện thoại, không ghi “đã đồng ý cung cấp” cho đến khi nhận thật.
Sau cuộc gọi, ông hỏi Nghi: “Cô nói với họ như thế nào để họ chịu?”
“Cháu nói giới hạn. Không hứa sẽ bảo vệ họ khỏi mọi hậu quả.”
“Ngày trước tôi hay hứa.”
“Ông hứa gì?”
“Rằng nếu cứ làm cho sân bay chạy, rồi sẽ có tiền sửa. Rằng tên mình trong giấy sẽ bảo vệ người dưới sân. Rằng không ai muốn gây chuyện.”
Nghi hỏi: “Ông có tin không?”
Vực nhìn bức ảnh nền lún. “Tôi tin đủ lâu để ký.”
Tại kho thiết bị cũ, Uyên tìm thấy một thùng rơ-le có nhãn năm sửa nền. Tất cả đã hết hạn sử dụng, nhưng một tấm thẻ giao nhận ghi mạch W-3 từng được tháo ở hai đoạn khác nhau. Bản đồ xanh không nhắc tới đoạn tháo này.
Uyên đem thẻ cho Nghi. “Nếu đã tháo hai đoạn, sao sơ đồ không có?”
“Vì sơ đồ được vẽ để vận hành, không phải để kể lịch sử.”
“Lịch sử bị bỏ đi thì người sau không biết dây đã từng đổi.”
“Đúng.”
Vực nghe thấy, nói: “Tôi nghĩ ai nhận ca cũng phải đọc hồ sơ sửa chữa.”
“Không phải nghĩ,” Nghi đáp. “Phải ghi thành yêu cầu bàn giao.”
Vực gật. Ông không bị xúc phạm. Có lẽ ông đã mệt với việc bảo vệ cách làm cũ.
Tòng yêu cầu một bản tóm tắt không quá hai trang để gửi tỉnh. Nghi viết, nhưng giữ phụ lục đầy đủ. Tóm tắt có năm phần: quan sát, dữ liệu, giới hạn, rủi ro nếu tiếp tục, việc cần quyết định. Cô không đưa tên Vực lên đầu, cũng không giấu chữ ký của ông ở phụ lục.
Tòng đọc. “Cô không gọi ai là người chịu trách nhiệm.”
“Trách nhiệm được phân theo quyết định và hành động. Không dùng một cái tên để đóng hồ sơ.”
“Tỉnh thích tên.”
“Tỉnh cần sửa hệ thống.”
Tòng gạch một câu rồi viết lại: “Các quyết định trước đây chưa bảo đảm điều kiện cập nhật và kiểm tra hình học.” Câu đó không dễ đọc, nhưng công bằng hơn việc gọi riêng một người “để xảy ra”.
Nghi nhận lại. “Câu này dùng được.”
Tòng hỏi: “Cô từng nghĩ làm việc với tôi sẽ thế nào?”
“Cháu nghĩ ông sẽ bảo phải mở sân.”
“Tôi cũng từng nghĩ mình sẽ bảo thế.”
“Vậy điều gì đổi?”
Tòng nhìn bản đồ đỏ. “Tôi đã đọc quá nhiều kế hoạch chỉ có mục tiêu và thiếu điều kiện. Đến lúc chịu trách nhiệm, tôi mới thấy phần thiếu nằm ở người khác.”
Nghi không nói ông đã thay đổi. Cô chỉ đặt bản tóm tắt vào hồ sơ.
Buổi tối, Vực gửi ảnh cũ. Một người thợ đứng cạnh hộp nối nâng bằng hai tấm kê gỗ. Ảnh mờ, nhưng hướng cáp vòng rõ. Uyên phóng lớn, so với mốc mới. Nghi không dùng ảnh để chứng minh hộp hiện tại dịch bao nhiêu. Cô dùng nó để chứng minh phương án vòng từng tồn tại.
Vực xem bản chú thích, hỏi: “Cô có để tên tôi không?”
“Có, ở phần người cung cấp hồ sơ.”
“Đừng để tên tôi như người cứu được việc.”
“Không ai ghi thế.”
“Cũng đừng để như người phá.”
Nghi nhìn ông. “Tên ông sẽ đi cùng chữ ký và bối cảnh. Người đọc tự đánh giá.”
Vực chấp nhận.
Một mạch điện có thể được truy bằng thiết bị. Một quyết định cũ phải được truy bằng nhiều bản ghi, cuộc gọi và những chỗ người ta từng không viết gì.
Nghi cất bức ảnh vào phụ lục. Hộp số 17 vẫn chưa được thay. Nhưng lần đầu, đội biết nó đã từng đứng ở đâu, ai từng đặt nó, và vì sao một đường vòng đã bị làm phẳng trên giấy.