Chương 15
Chương 15
Bản đề xuất đóng sân bay ban đêm dài mười bảy trang. Nghi không viết một dòng “đóng vì nguy hiểm” rồi đặt bút ký. Cô phải viết cả những gì xảy ra sau tiếng đóng cửa: chuyến hàng đi đâu, nhân viên đổi ca thế nào, xe đưa khách ra sân bay nào, hộp lạnh được vận chuyển ra sao, người dân cần liên hệ ai và đội kỹ thuật sẽ kiểm tra lại vào ngày nào.
Tòng yêu cầu cô trình bày bản nháp trước nhóm khai thác. Kha mang số liệu xe, Hân mang lịch hãng, Lan mang mực nước, Duy mang bảng thời gian điều hành. Mỗi người bổ sung một phần khiến bản đề xuất dày thêm.
“Nếu chỉ đóng đêm, kho lạnh chuyển hàng từ 17 giờ,” Kha nói. “Xe phải chạy qua tuyến phà, nhưng chuyến cuối không đủ.”
“Có thể xin chuyến phà tăng cường,” Tòng đáp.
“Cần người ký.”
Hân nói: “Hãng có thể hỗ trợ một xe trung chuyển trong thời gian tạm, nhưng phải biết điểm nhận hàng.”
Lan đặt bản đồ mương xuống. “Nếu xe đi đường phía bắc, tránh khu nền yếu. Đường phía nam ngắn hơn nhưng tuần trước nước đã làm lún một đoạn.”
Nghi ghi tất cả vào phương án. Một quyết định an toàn không được phép đẩy phần nguy cơ sang một con đường khác mà không ai kiểm tra.
Duy thêm: “Nếu có chuyến đặc biệt ban ngày cần kéo dài sau giờ đóng, tháp phải nhận thông báo trước ít nhất hai giờ. Không dùng radio để xin ngoại lệ.”
Tòng nhìn anh. “Không có ngoại lệ nào sao?”
“Có thể có quy trình khác. Không có ngoại lệ bằng lời.”
Tòng gật. Ông đang học cách không xem kỷ luật là thứ cản kế hoạch.
Uyên phụ trách phần danh sách người báo bất thường. Cô ghi Kha, Phúc và những nhân viên cũ cung cấp thông tin ẩn danh. Một người trong nhóm hỏi có cần ghi tên người đã không báo không.
“Không,” Nghi nói. “Ta không lập danh sách để xấu hổ. Ta lập để từ nay có đường báo.”
“Nhưng nếu ai đó đã bỏ qua?”
“Ghi hành vi trong hồ sơ phù hợp. Không trộn nó với chương trình bảo vệ người báo.”
Uyên sửa tiêu đề thành “kênh báo bất thường và trách nhiệm phản hồi”.
Chiều, bà Lệ mang bản dự toán mới. Kinh phí thay mạch chưa được duyệt toàn bộ, nhưng có thể tạm cấp để khảo sát và xử lý hộp số 17. Phần thay toàn tuyến phải chờ phiên họp tỉnh.
Tòng hỏi: “Nếu chỉ thay W-3, chúng ta có được mở đêm không?”
Nghi đáp: “Chỉ sau khi khảo sát các mạch liên quan và có kiểm tra độc lập. Không thể suy từ một hộp mới ra cả sân.”
“Cô đang bảo vệ mình bằng điều kiện không thể hết.”
“Tôi đang bảo vệ hệ thống khỏi cách suy diễn ‘đã sửa một chỗ nên mọi chỗ ổn’.”
Vực được mời để đọc phần lịch sử. Ông cầm bản đề xuất rất lâu. Ở trang có chữ ký cũ, ông dùng bút đánh dấu những chỗ hồ sơ thiếu ngày.
“Tôi sẽ bổ sung một phụ lục,” ông nói.
Nghi hỏi: “Phụ lục gì?”
“Tôi sẽ ghi những gì tôi nhớ, tách khỏi tài liệu chính thức.”
“Nếu nhớ sai?”
“Ghi rõ là hồi ức, không dùng thay chứng cứ.”
Nghi gật. Vực không còn cố biến trí nhớ thành giấy tờ chính.
Buổi tối, Nghi đưa bản đề xuất cho Tòng ký. Ông đọc phần tác động tới nhân viên. Một câu ghi “nhân viên có thể bị giảm ca” bị gạch đi. Ông sửa thành “lịch ca có thể giảm hoặc chuyển trong thời gian tạm; bộ phận khai thác chịu trách nhiệm thông báo và hỗ trợ chuyển việc”.
“Ông sửa để bớt xấu?” Nghi hỏi.
“Tôi sửa để câu có người chịu trách nhiệm.”
“Tốt.”
Tòng đặt bút, rồi dừng. “Cô có biết nếu tỉnh hỏi ai chịu trách nhiệm đóng sân, tôi sẽ là người đứng trước không?”
“Biết.”
“Cô có thấy mình đang đẩy tôi vào đó?”
“Tôi đẩy dữ liệu lên bàn. Ông chọn quyết định.”
“Khác nhau à?”
“Khác. Nếu không, chẳng ai có quyền ký ngoài người phát hiện.”
Tòng nhìn cô. “Cô nghĩ người phát hiện không nên là người quyết định?”
“Có thể quyết định kỹ thuật trong phạm vi được giao. Nhưng việc đóng sân ảnh hưởng nhiều hơn kỹ thuật. Nó cần người nhìn toàn bộ hậu quả và dám chịu.”
Tòng ký.
Nghi ký phần báo cáo kỹ thuật sau đó. Cô thấy tay mình không run, không phải vì không sợ, mà vì từng điều kiện đã có tên người, ngày và phương pháp.
Trong phòng trực, Uyên đưa cho cô một danh sách cập nhật. “Có ba nhân viên hỏi nếu báo lỗi thì họ có bị mất ca không.”
“Em đã trả lời?”
“Em nói không biết, rồi ghi câu hỏi.”
“Đúng.”
“Em muốn có câu trả lời.”
“Vậy đưa câu hỏi vào kế hoạch.”
Tòng nghe được, nói: “Không ai mất ca chỉ vì báo trung thực. Nhưng nếu báo giả để phá lịch, vẫn xử lý.”
Kha hỏi: “Ai xác định giả?”
Tòng quay sang. “Bộ phận điều tra nội bộ.”
“Và người báo có được biết kết quả không?”
Tòng im một nhịp. “Có.”
Uyên ghi vào bản quy trình. Một kênh báo bất thường chỉ tồn tại khi người báo biết câu chuyện của họ đi tới đâu.
Hân gửi email xác nhận hãng sẽ giữ khung chuyến mười bốn ngày, đồng thời đặt xe trung chuyển cho kho lạnh. Cô thêm một câu: “Nếu sân bay xác nhận đóng đêm, hãng sẽ thông báo minh bạch với hành khách; không dùng lý do thời tiết nếu nguyên nhân là điều kiện kỹ thuật.”
Tòng đọc, gật. “Câu này làm tôi đau đầu.”
“Nhưng đúng.”
“Tôi biết.”
Đêm đó, sân bay Vàm Chân vẫn có hoạt động ban ngày. Đèn biên không bật. Đường băng nằm im dưới ánh đèn sân đỗ. Bản đề xuất đóng đêm được gửi lên tỉnh, hãng và các bộ phận liên quan.
Nghi đứng ngoài cửa phòng kỹ thuật, nhìn bốn ngọn đèn cuối đã tắt. Cô không thấy nhẹ nhõm. Đóng sân bay không phải thắng. Nó chỉ là ngăn một quyết định chưa đủ dữ liệu trở thành chuyến bay có thật.
Từ tháp, Duy gọi xuống: “Bản đề xuất đã được tiếp nhận.”
Nghi hỏi: “Có phản hồi không?”
“Chưa.”
“Ghi là chưa.”
“Đã ghi.”
Một chữ ký đã bắt đầu chuyển động qua những phòng khác. Nghi không biết nó sẽ được chấp nhận hay bị trả về. Cô chỉ biết lần này, không ai có thể nói rằng họ không biết sân bay đang đứng trên nền nào.
Nửa đêm, tỉnh gửi phản hồi đầu tiên. Họ chấp thuận đóng đêm trong bảy ngày, nhưng yêu cầu sân bay báo tiến độ mỗi ngày. Bà Lệ hỏi Nghi nếu bảy ngày không đủ thì sao.
“Báo trước ngày thứ sáu,” Nghi đáp.
“Nếu ngày thứ sáu vẫn chưa biết?”
“Báo chưa biết.”
Bà Lệ không vui, nhưng chấp nhận. “Cô biết câu đó làm kế hoạch rất khó.”
“Kế hoạch vốn đã khó. Chỉ là trước đây nó được viết như thể không.”
Sáng hôm sau, lịch ca được điều chỉnh. Một số nhân viên chuyển sang khảo sát nền và sửa hộp. Một số người sang kho lạnh hỗ trợ kiểm hàng. Không phải ai cũng có thể chuyển việc; Tòng lập danh sách những người cần giữ phụ cấp đêm trong giai đoạn tạm vì họ đang làm nhiệm vụ thay thế.
Kha hỏi: “Có người không được chuyển sang ca ngày vì chăm con.”
Tòng đáp: “Ghi tên. Không xếp theo một mẫu cho tất cả.”
Nghi ghi vào báo cáo tác động. Một quyết định kỹ thuật không thể coi người lao động là các đơn vị giống nhau.
Hân gặp đội kỹ thuật trước khi họ mở tuyến cáp. Cô mang một bộ danh sách kiểm tra của hãng và yêu cầu ký nhận từng bước. Tòng hỏi hãng có quyền gì trong sửa chữa.
“Không can thiệp kỹ thuật,” Hân nói. “Chỉ xác nhận dữ liệu cần để phi hành đoàn tin hệ thống.”
Nghi hỏi: “Nếu hai tiêu chuẩn không trùng?”
“Ghi cả hai, tìm phần giao nhau, không chọn tiêu chuẩn thuận tiện hơn.”
Họ bắt đầu bằng việc đặt mốc mới. Uyên đọc tên mốc, Lan kiểm nền, Lâm đo, Nghi ghi. Vực đứng ngoài, được mời chỉ vị trí cũ nhưng không tự đặt lại cọc. Ông chỉ, Lan xác nhận bằng đo.
“Ngày trước chúng tôi đặt cọc theo mắt,” Vực nói.
Lan đáp: “Ngày nay cũng dùng mắt, nhưng có thêm số để mắt không phải làm một mình.”
Hộp số 17 được tháo. Cáp bên trong không đứt, nhưng lớp bọc tại một điểm cọ có vết mòn. Đầu nối bị ẩm. Kỹ thuật viên chụp ảnh, đo, đóng gói mẫu. Nghi yêu cầu không gọi ngay là nguyên nhân duy nhất. Mẫu phải được kiểm tra thêm.
Tòng đứng cạnh rào, xem người lao động chuyển vật liệu. “Cô có muốn tôi tự viết phần tiến độ không?”
“Ông viết phần vận hành. Kỹ thuật viết phần hiện trạng.”
“Nếu tôi viết sai?”
“Sẽ có người đối chiếu.”
“Trước đây tôi không thích bị đối chiếu.”
“Bây giờ?”
“Tôi bắt đầu thấy nó rẻ hơn tự nhớ.”
Nghi cười nhẹ.
Chiều, một nhân viên hỏi Nghi vì sao không giữ lại một đầu nối cũ làm vật kỷ niệm. Cô nói mẫu được niêm phong cho kiểm tra, không phải vật trưng bày. Anh hỏi bao giờ họ biết kết quả.
“Khi có kết quả.”
“Chị có bao giờ muốn mọi việc nhanh hơn không?”
“Mỗi ngày.”
“Vậy sao chị chịu được?”
“Vì nhanh hơn không phải lúc nào cũng tới đúng.”
Uyên nghe, ghi câu này vào sổ riêng. Nghi không biết cô sẽ giữ lại hay bỏ.
Cuối ngày thứ nhất, cáp thay một phần, nền quanh hộp được xử lý nhưng chưa đủ ổn định. Đèn chưa bật. Báo cáo gửi đi với ảnh hiện trạng, số mét cáp, giờ công và việc còn lại. Tỉnh phê duyệt tiếp.
Ngày thứ hai, mưa không đến. Lan đo lại mốc. Một cọc mới đứng, một cọc cần gia cố. Lâm kéo tuyến thật lên bản đồ số. Uyên so sánh bản đồ W3-04 với ảnh từ hiện trường, tìm hai đoạn chưa được cập nhật. Cô tự tạo yêu cầu sửa phiên bản, không chờ Nghi.
Ngày thứ ba, Hân nhận thông báo hãng giữ chuyến thử không chở khách vào ngày thứ mười một nếu điều kiện đạt. Cô nói đó không phải lời hứa mở tuyến, chỉ là cửa sổ kiểm tra.
Tòng đọc email, hỏi: “Nếu không đạt?”
“Hãng chuyển,” Hân đáp.
“Không giận?”
“Hãng sẽ tiếc. Nhưng tiếc không phải lý do hạ cánh.”
Đêm cuối trước lần kiểm tra độc lập, Nghi đứng một mình ở cửa phòng kỹ thuật. Từ đây, đường băng tối, không có bốn ngọn đèn lệch. Cô không còn xem bóng tối như bằng chứng mọi việc đã được sửa. Nó chỉ là trạng thái chưa bật.
Bản đề xuất đóng đêm đã được chấp nhận. Mỗi chữ ký đi qua một phòng, mang theo một phần sự thật và một phần giá phải trả. Nghi không biết chuyến bay đầu tiên sau sửa sẽ diễn ra ngày nào.
Cô chỉ biết không ai còn có thể nói sân bay đứng trên nền nào mà không mở bản đồ.