Chương 16
Chương 16
Gió chướng đến sớm hơn dự báo bốn giờ. Nó không làm mái nhà ga rung ngay, nhưng khiến mọi cánh cửa phải đóng chặt và đẩy mặt nước trong mương về phía hộp số 17.
Bản đề xuất đóng đêm chưa được phê duyệt cuối cùng. Tỉnh đã nhận, hãng đã nhận, nhưng một cuộc họp trực tuyến bị lùi vì đường truyền chập chờn. Trên lịch, chuyến mở tuyến vẫn còn tên. Trên bảng điều hành, trạng thái bị ghi “chờ xác nhận”.
Tòng đứng trước màn hình, nhận ba cuộc gọi trong mười phút. Một cuộc từ kho lạnh, một từ tỉnh, một từ Hân.
“Hãng hỏi có thể giữ máy bay ở sân bay xuất phát lâu hơn không,” Hân nói. “Thời tiết ở bên đó đang tốt, nhưng cửa sổ bay đêm không rộng.”
Tòng nhìn Nghi. “Cô đã gửi cập nhật điều kiện chưa?”
“Đã gửi. Mưa, mực nước, mạch W-3 chưa sửa, đóng đêm đề xuất.”
“Chưa có quyết định chính thức.”
“Về mặt kỹ thuật, chưa có xác nhận khai thác.”
“Tôi biết sự khác nhau.”
Hân nghe qua loa. “Tôi cần biết sân bay có nhận chuyến không.”
Tòng trả lời: “Chúng tôi đang chờ.”
Nghi nhìn ông. “Không phải câu đó.”
Tòng tắt loa, quay sang cô. “Cô muốn tôi nói gì khi chưa có quyền đóng?”
“Nói trạng thái: sân bay chưa xác nhận điều kiện khai thác đêm; hãng cần chuẩn bị phương án bay vòng hoặc chuyển chuyến.”
“Nếu tôi nói vậy, họ có thể hủy.”
“Nếu không nói, phi hành đoàn có thể nhận một tín hiệu không đầy đủ.”
Tòng mở loa lại. “Hân, sân bay chưa xác nhận điều kiện khai thác đêm. Đề nghị hãng giữ phương án không tiếp cận cho đến khi có xác nhận bằng văn bản.”
Hân không tranh luận. “Tôi ghi nhận. Tôi sẽ báo phi hành đoàn và tỉnh.”
Cuộc gọi kết thúc.
Duy từ tháp gọi xuống. “Tôi nhận được một dự báo máy bay đang ở vùng lân cận, chưa phải chuyến của Hân. Có thể họ xin thông tin thời tiết.”
Tòng hỏi: “Sân bay có hoạt động đêm không?”
Duy đáp: “Chưa xác nhận.”
“Anh có thể cung cấp gì?”
“Thông tin khí tượng, trạng thái đường băng ban ngày, không cung cấp xác nhận đèn biên cho khai thác đêm.”
Nghi nghe thấy. Duy đã chọn câu chữ rõ.
Ngoài sân, Lan gọi: mực nước vượt cọc số hai, nền quanh khu W-3 không an toàn để đi bộ nếu không có lối kiểm tra. Uyên ở phòng kỹ thuật, vừa cập nhật camera vừa nhìn lịch. Cô hỏi: “Nếu có chuyến bay xin tiếp cận, chúng ta có ra sửa đèn không?”
Nghi đáp ngay: “Không ai ra đường băng sửa trong lúc có tiếp cận.”
“Nếu chỉ là một bóng tắt?”
“Không.”
“Nếu Tòng yêu cầu?”
“Ông ấy không được yêu cầu điều đó.”
Tòng nghe qua, nói: “Đúng. Không ai vào vùng hoạt động để sửa nhanh.”
Uyên ghi câu này vào bảng quy trình.
18 giờ 40, tỉnh gửi email: cuộc họp phê duyệt đóng đêm sẽ diễn ra sau một giờ. Trong lúc chờ, sân bay được yêu cầu “duy trì trạng thái sẵn sàng ban ngày và không tự ý phát hành thông báo làm ảnh hưởng thị trường”.
Hân gọi lại. “Tôi đọc câu cuối.”
“Tôi cũng,” Tòng đáp.
“Tôi cần biết có được bán vé không.”
Tòng im. Hân hỏi lại: “Ông có nghe không?”
Tòng nhìn Nghi, rồi nói: “Tạm dừng bán vé cho chuyến mở tuyến.”
Hân thở ra. “Tôi sẽ thông báo.”
Kha bước vào với một bảng danh sách nhân viên. “Nếu chuyến bị chuyển, kho lạnh cần ba xe. Tôi đã gọi được hai.”
Tòng hỏi: “Xe thứ ba?”
“Đang tìm.”
“Tìm tiếp.”
Kha nhìn Nghi. “Không ai hỏi tôi có muốn báo không.”
“Bây giờ em có thể báo,” Nghi nói.
“Em báo là một xe có tài xế từng chạy khu bắc, nhưng đoạn đường đang lún. Không nên dùng nếu mưa tiếp.”
Tòng ghi lại. “Không dùng.”
Kha hỏi: “Vậy kho lạnh sẽ nói gì?”
“Nói đúng lý do,” Hân đáp qua loa điện thoại vẫn mở. “Không dùng xe có nguy cơ khác để bù một chuyến bay bị treo.”
Mọi người quay sang màn hình. Hân vẫn ở đầu dây.
“Tôi muốn làm rõ,” cô nói. “Hãng không muốn sân bay phải chọn giữa an toàn đường băng và an toàn vận chuyển mặt đất. Chúng ta cần phương án tổng thể.”
Lan gọi vào: “Mực nước đang đổi hướng. Đường phía bắc có thể đi được nếu xe nhẹ.”
Kha lập tức lập phương án.
19 giờ 12, trời tối hẳn. Đèn sân đỗ bật. Đèn biên vẫn tắt theo trạng thái hạn chế. Từ tháp, Duy báo một máy bay đi ngang vùng thông báo, không xin tiếp cận.
“Có cần phát thông tin sân bay đang hạn chế đêm không?” anh hỏi.
Tòng nhìn Nghi.
Nghi nói: “Phát theo mẫu đã duyệt. Không thêm suy đoán.”
Duy đọc thông báo. Từng chữ đi ra trên radio, phẳng và rõ. Không ai nghe thấy những cuộc gọi phía sau nó, nhưng mọi người trong phòng biết một câu đúng có thể giữ người khác khỏi phải đoán.
20 giờ, cuộc họp tỉnh bắt đầu. Màn hình chia thành nhiều ô: đại diện tỉnh, hãng, sân bay, kho lạnh. Nghi trình bày bản đề xuất đóng đêm. Tòng trình bày tác động và phương án trung chuyển. Hân xác nhận hãng đã dừng bán vé. Bà Lệ nói kinh phí khảo sát và xử lý khẩn cấp có thể được cấp trước, nhưng quyết định thay toàn tuyến cần thêm.
Một người hỏi: “Nếu chưa có quyết định đóng, tại sao sân bay đã dừng bán vé?”
Hân đáp: “Vì hãng cần thời gian bảo vệ hành khách khỏi một lịch chưa được xác nhận.”
Tòng thêm: “Sân bay đang duy trì hoạt động ban ngày. Đêm chỉ được khôi phục sau khi có xác nhận kỹ thuật.”
Cuộc họp chưa kết thúc thì Duy gọi. Giọng anh khác thường, vẫn chuẩn nhưng nhanh hơn.
“Tháp Vàm Chân gọi. Có chuyến bay khu vực đang ở gần, vừa gặp thời tiết xấu trên đường bay. Họ hỏi khả năng tiếp cận sân bay dự phòng.”
Không ai nói trong một giây. Hân nhìn màn hình. Tòng nhìn Nghi. Ngoài kia, gió quất vào cửa kính, và bốn ngọn đèn biên vẫn chưa bật.
“Họ có biết trạng thái hạn chế không?” Nghi hỏi.
“Tôi đã báo. Họ hỏi liệu có thể dùng đèn nếu cần.”
Tòng nói: “Chúng ta chưa có xác nhận.”
Duy hỏi: “Tôi trả lời thế nào?”
Nghi nghe tiếng mình rất rõ. “Không xác nhận khai thác đêm. Cung cấp thông tin thời tiết và sân bay dự phòng theo quy trình. Không dùng đèn chưa được xác nhận để mời tiếp cận.”
Duy đáp: “Đã rõ.”
Cuộc họp trên màn hình bỗng không còn là cuộc họp về lịch mở tuyến. Một chuyến bay thật đang ở gần một quyết định mà cả phòng đã cố trì hoãn.
Gió chướng đẩy mưa về phía đường băng.
Trong ba phút chờ phi hành đoàn xác nhận sân bay dự phòng, không ai được tự ý mở đèn. Nghi yêu cầu Uyên đọc lại trạng thái hệ thống, không đọc lại ý kiến. Uyên nói mạch W-3 cô lập, nguồn dự phòng sẵn sàng nhưng không nối vào đèn biên, mực nước dưới giới hạn xe nhưng không đủ cho người đi bộ tới hộp.
Tòng hỏi: “Nếu họ chỉ cần thông tin sân đỗ?”
“Cung cấp. Không suy ra khả năng hạ cánh.”
Duy lặp lại qua radio. Anh không thêm lời xin lỗi, cũng không nói “rất tiếc”. Những từ đó có thể dùng sau khi quyết định an toàn, không dùng để làm mềm một câu cảnh báo.
Hân mở bản đồ thời tiết, báo dải mưa đang rời khỏi hướng sân bay dự phòng. Không ai biết máy bay có thể tới đó trong bao lâu. Chỉ biết Vàm Chân chưa thể biến mình thành lựa chọn chỉ vì khoảng cách.
Kha đứng ngoài cửa, hỏi có cần đưa xe kiểm tra ra gần cổng không. Nghi nói xe ở vị trí an toàn, không vào sân. Anh chuyển lệnh. Lan kiểm tra cửa mương, không vì gió mà bước xuống nền.
Một nhân viên trẻ hỏi Tòng liệu có cần bật đèn nhà ga cho máy bay nhìn thấy sân bay không. Tòng đáp: “Đèn nhà ga không phải đèn đường băng. Không tạo tín hiệu ngoài quy định.”
Nghi nhìn ông. Ông đã bắt đầu phân biệt giữa thứ nhìn thấy và thứ được phép dùng để dẫn đường.
Cuộc họp tỉnh trên màn hình vẫn đang mở. Người điều phối hỏi tại sao sân bay không thể “linh hoạt” khi máy bay cần. Hân trả lời rằng linh hoạt trong hàng không là chọn phương án đã có tiêu chuẩn, không phải bỏ qua tiêu chuẩn vì thời gian.
Duy nghe, rồi xác nhận phi hành đoàn đã nhận được thông tin. Họ chọn sân bay khác.
Không ai biết liệu máy bay có thể hạ cánh ở Vàm Chân nếu đèn được bật hay không. Nghi thấy việc không biết ấy không phải một khoảng trống cần lấp bằng giả định. Nó là lý do họ không được bật.
Tòng nói với tỉnh: “Tôi ký duy trì hạn chế khai thác đêm cho đến khi có kết quả kiểm tra. Tác động vận hành do sân bay và hãng xử lý theo phương án đã gửi.”
Người điều phối hỏi: “Ông có chắc quyết định đó không?”
Tòng đáp: “Tôi chắc về phạm vi mình có dữ liệu.”
Nghi nghe câu ấy, không sửa.
Ngoài kia, gió chướng đẩy mưa về phía đường băng. Trong phòng, các con số không biến thành câu trả lời lớn hơn chúng. Nhưng mọi người đã biết phải làm gì với sự không chắc: giữ người ngoài vùng, giữ kênh liên lạc, giữ đèn ở trạng thái không xác nhận và để phi hành đoàn chọn nơi có điều kiện rõ hơn.
Uyên đóng sổ, ghi thời điểm cuộc gọi cuối cùng. Tòng đặt quyết định hạn chế lên bàn. Duy nhắc lại trạng thái cho tháp. Hân chuyển thông tin cho hãng. Bốn việc diễn ra ở bốn nơi, nhưng cùng hướng về một lựa chọn: không biến sự cần thiết của chuyến bay thành lý do bỏ qua điều kiện chưa được kiểm.
Họ không cần đồng thuận tuyệt đối để bắt đầu. Họ chỉ cần cùng biết đâu là giới hạn đã được xác nhận, đâu là phần còn phải chờ.