Vệt Sáng Ngoài Đường Băng
9 phút đọc

Chương 12

Chương 12

Lê Minh Kha nghe tín hiệu lạ lúc 2 giờ 07 phút sáng, giữa hai tiếng gọi xe sân đỗ.

Tín hiệu không giống lời nói. Nó là một chuỗi âm ngắn, chen vào kênh nội bộ rồi mất. Kha tưởng mình nghe nhầm vì phòng trực có máy hút ẩm chạy liên tục. Anh tháo tai nghe, nghe lại từ bản ghi. Chuỗi âm xuất hiện hai lần, cách nhau mười bốn giây.

Kha gọi tháp. “Duy, anh có nghe tín hiệu trên kênh sân đỗ không?”

Duy trả lời ngay: “Mốc giờ?”

“Hai giờ bảy, hai giờ bảy mười bốn.”

“Tôi kiểm tra.”

Kha ghi vào sổ, rồi do dự trước ô người báo. Anh có thể viết tên mình. Anh cũng có thể bỏ trống như nhiều trang trước. Anh viết.

Ở tháp, Duy mở bản ghi radio. Tín hiệu không đi qua kênh điều hành chính, chỉ lọt vào kênh sân đỗ. Nó giống nhiễu từ bộ phát cầm tay, nhưng tần số hơi lệch. Duy báo Nghi.

Nghi tới phòng trực lúc 2 giờ 35, mang theo Uyên. Kha mở bản ghi. Chuỗi âm phát ra như ba tiếng bíp ngắn, một khoảng, rồi hai tiếng dài.

“Thiết bị nào đang bật?” Nghi hỏi.

Kha chỉ các bộ đàm. “Bốn chiếc. Một bộ sạc. Máy quét mã xe.”

“Có ai ngoài vùng không?”

“Không theo danh sách.”

Uyên hỏi: “Tín hiệu có liên quan đèn không?”

Nghi không trả lời. Cô bảo Kha ghi là tín hiệu bất thường trên kênh sân đỗ, chưa xác định nguồn. Duy đồng ý.

Sáng hôm sau, Tòng nghe báo cáo, muốn xếp tín hiệu vào mục “nhiễu liên lạc”.

“Có bằng chứng nó không phải nhiễu?” ông hỏi.

“Chưa,” Nghi đáp.

“Vậy sao phải đưa vào báo cáo W-3?”

“Vì nó xuất hiện gần thời điểm Kha báo kiểm tra mạch và có thể là nguồn gây nhầm trong giao tiếp.”

“Có thể quá nhiều.”

Kha đứng cạnh bàn, nói: “Em đã nghe ba lần trong tuần trước. Chỉ lần này em ghi.”

Tòng nhìn anh. “Tại sao trước đó không ghi?”

Kha không tránh. “Vì em nghĩ nếu không ảnh hưởng trực tiếp, ghi cũng không ai đọc.”

Tòng im. Câu trả lời đụng vào thứ lớn hơn một tín hiệu radio.

Nghi yêu cầu mở sổ ca sân đỗ trong ba tháng. Những dòng ghi “âm thanh lạ”, “bộ đàm tự phát”, “nghe tín hiệu không rõ” xuất hiện rải rác. Không dòng nào có thời gian đầy đủ. Nhưng khi đối chiếu với ngày mưa và ngày chạy máy phát, chúng tập trung quanh những lần nguồn thay đổi.

Duy nói: “Có thể bộ điều khiển đèn gây nhiễu.”

Uyên hỏi: “Nếu gây nhiễu, nó có làm bảng báo sai không?”

“Không nhất thiết. Hai hệ thống dùng nguồn chung nhưng đường tín hiệu khác.”

Nghi đi tới tủ điện, kiểm tra các bộ lọc. Tất cả còn nguyên. Cô không biến tín hiệu thành nguyên nhân của vệt sáng. Cô đặt nó vào danh sách câu hỏi.

“Chúng ta cần biết nó xảy ra khi nào, không chỉ nó nghe thế nào,” cô nói.

Kha nhận phần tìm thời điểm. Anh gọi những người từng trực. Một người nhớ tín hiệu xuất hiện khi chuyển nguồn. Một người bảo đó là tiếng từ xe nâng. Một người nói không muốn trả lời vì đã nghỉ và không muốn liên quan.

Kha không ép. Anh hỏi họ có đồng ý cung cấp giờ và vị trí không. Có người đồng ý ẩn danh.

Uyên làm bảng đối chiếu. Cột thời gian, nguồn điện, mưa, trạng thái mạch, người nghe, bản ghi. Cô phát hiện một điểm chung: tín hiệu thường xuất hiện trong khoảng hai phút đầu sau khi máy phát nhận tải.

Tòng nhìn bảng. “Tín hiệu này có khiến đèn lệch không?”

Nghi nói: “Chưa có dữ liệu.”

“Nó có khiến phi công gặp nguy hiểm không?”

“Nếu làm người điều hành bỏ sót một thông tin quan trọng, có thể.”

“Vậy có cần đóng sân không?”

“Không riêng vì tín hiệu. Nhưng nó là lý do phải không dùng kênh liên lạc như một hệ thống phụ không được kiểm tra.”

Duy xin phép chạy thử trong điều kiện không có máy bay. Anh đặt một bộ thu ở tháp, một ở sân đỗ, một gần tủ W-3. Máy phát được bật. Trong 32 giây đầu, không có tín hiệu. Ở giây 47, bộ thu gần tủ ghi được ba bíp ngắn, một khoảng, hai tiếng dài.

Uyên quay sang Nghi. “Lặp lại rồi.”

Nghi yêu cầu giữ nguyên thiết bị, không tắt. Duy đánh dấu thời gian. Bảng đèn được chụp cùng lúc. Vệt sáng lệch nhẹ hơn lần mưa, nhưng vẫn xuất hiện ở hai góc.

Kỹ thuật viên liên lạc tháo một hộp lọc, phát hiện lớp tiếp xúc bị oxi hóa. Ông không dám nói đó là nguyên nhân. Chỉ nói hộp lọc cần thay và đường dây cần đo nhiễu.

Kha nghe xong, hỏi: “Nếu thay hộp lọc, mọi thứ hết không?”

“Không biết.”

Anh thở ra. “Ai cũng nói không biết.”

Nghi đáp: “Vì ta đang ở phần phải biết trước khi sửa.”

Kha nhìn bản ghi. “Nhưng những người trực trước cũng nghe.”

“Đúng.”

“Vậy tại sao họ không có tên trong sơ đồ?”

Nghi hiểu câu hỏi không chỉ về sơ đồ nhân sự. Những người trực ca, lau sân, hướng xe, nghe radio thường nằm ngoài các cuộc họp chính. Họ có thông tin nhưng không có vị trí để đưa thông tin vào hệ thống.

Lan đề nghị lập một bản đồ “ai nhìn thấy gì”. Không phải sơ đồ chức danh, mà là danh sách vị trí quan sát: tháp, sân đỗ, tủ điện, mương, kho lạnh, xe tuần tra. Mỗi vị trí ghi loại tín hiệu có thể nhận ra và cách báo.

Tòng hỏi: “Bản đồ này có cần phê duyệt không?”

“Có,” Nghi nói. “Nhưng người lập phải đi từ hiện trường.”

Tòng nhìn Kha. “Cậu làm cùng Uyên.”

Kha gật.

Buổi tối, Kha đứng tại mốc sân đỗ, đeo tai nghe. Uyên ở gần tủ điện, Nghi ở phòng kỹ thuật, Duy trên tháp. Khi máy phát chuyển tải, ba tiếng bíp vang lên. Kha không chờ ai hỏi. Anh nói: “Tín hiệu lạ, thời gian 21:16, nguồn dự phòng đang nhận tải, vị trí sân đỗ.”

Duy trả lời xác nhận. Uyên ghi. Nghi yêu cầu không dùng kênh đó cho chỉ dẫn vận hành cho đến khi sửa.

Tín hiệu biến mất sau hai phút.

Không có máy bay. Không có ai bị thương. Nhưng một âm thanh từng bị coi là không đáng kể đã có tên, giờ, vị trí và người chịu trách nhiệm.

Trên sơ đồ mới, Uyên ghi tên Kha ở một ô mà bản đồ nhân sự cũ chưa từng có.

Kha nhìn thấy, không nói gì.

Lần đầu, anh không đứng ngoài những gì mình đã nghe.

Kha mang bản đồ kênh báo tới phòng kỹ thuật, hỏi Nghi có thể đặt một hộp ghi âm ở sân đỗ không. Thiết bị không ghi liên tục tất cả nội dung, chỉ lưu mốc tín hiệu bất thường và người xác nhận. Nghi hỏi quyền riêng tư. Kha nói cần quy định rõ, không biến người trực thành đối tượng bị nghe lén.

Duy đề xuất chỉ lưu mã sự kiện và đoạn âm ngắn quanh tín hiệu, có người ký. Hân nói hãng cần biết nếu kênh sân đỗ không đáng tin trong thời gian chuyển nguồn. Tòng yêu cầu văn bản phê duyệt và thời hạn lưu.

Uyên viết quy trình. Kha đọc, thấy câu “người ghi âm chịu trách nhiệm bảo vệ dữ liệu” nhưng không có người thay khi anh nghỉ. Anh thêm mục bàn giao. Nghi gật.

“Em nghĩ tới phần sau,” cô nói.

“Vì em từng không biết phần trước.”

Buổi thử tiếp theo diễn ra lúc 15 giờ, trời khô. Bộ lọc kênh tạm thời được thay. Máy phát nhận tải. Không có tín hiệu trong hai phút đầu, nhưng một tiếng bíp đơn xuất hiện ở giây 86. Nó không giống chuỗi cũ. Duy không gọi là đã sửa.

“Nguồn có thể là thiết bị khác,” anh nói.

Kha kiểm tra xe nâng đang sạc. Một bộ sạc phát xung nhiễu. Họ tắt, tín hiệu biến mất. Sân bay loại được một nguồn, không loại được vấn đề W-3. Kha ghi rõ.

“Em thấy thất vọng,” Uyên nói.

“Vì không phải đèn à?”

“Vì em muốn tìm đúng một nguyên nhân.”

Nghi đáp: “Trong hệ thống thật, có thể có nhiều nguyên nhân cùng xuất hiện. Tìm một nguyên nhân dễ kể, không phải lúc nào cũng đúng.”

Kha rà tiếp nhật ký. Một người trực năm trước có ghi “không dùng kênh sân đỗ khi bật máy phát”, nhưng hướng dẫn không tới ca mới. Không ai biết văn bản nằm ở đâu. Tòng yêu cầu tìm bản gốc; Vực nhớ nó từng dán trong phòng cũ, nơi đã sửa thành kho.

Họ tìm thấy một mảnh giấy sau tủ. Mực nhòe, nhưng còn câu cảnh báo. Không có ngày hiệu lực.

Nghi đặt cạnh thông báo mới. “Đây là ví dụ của quy trình sống bằng lời truyền miệng.”

“Nó đã sống được tám năm,” Kha nói.

“Và chết mỗi khi người biết nó nghỉ việc.”

Duy đề nghị tất cả cảnh báo có mã, ngày rà soát và người sở hữu. Tòng hỏi nếu người sở hữu chuyển việc thì sao. Duy nói phải có người kế nhiệm trong biên bản bàn giao.

Không ai cười khi Kha nhận vai trò tạm thời quản lý bản đồ tín hiệu. Anh không có bằng kỹ thuật, nhưng có kinh nghiệm sân đỗ và biết các loại âm thanh nơi đó. Nghi ghi rõ phạm vi vai trò: thu thập, không kết luận.

Chiều hôm đó, Kha gọi cho Phúc, nhân viên cũ từng báo tín hiệu. Phúc nói câu cảnh báo cũ xuất phát từ lần máy phát làm radio rè, không liên quan đèn. Kha hỏi nếu có thể liên quan nguồn chung. Phúc nói không biết, nhưng nhớ tủ W-3 từng phát tiếng rung nhẹ.

Kha hỏi ngày. Phúc không nhớ, chỉ nhớ sau một trận mưa.

Kha không bỏ thông tin. Anh ghi “không xác định ngày, hồi ức của người cũ”. Duy nói đó là mảnh ghép chưa đủ hình, nhưng không phải rác.

Nghi nhìn bản đồ người nhìn thấy gì. Kha đặt phòng trực, sân đỗ, tháp và tủ điện lên đó. Mỗi vị trí có một đường báo tới ít nhất hai người. Không ai còn là điểm cuối duy nhất.

Tòng hỏi: “Nếu mọi người báo cùng lúc, ai quyết định?”

Nghi đáp: “Người có thẩm quyền theo loại sự việc; những người còn lại ghi.”

“Nếu không rõ loại?”

“Tạm coi là chưa rõ, chuyển cho điều phối.”

“Từ ‘tạm’ lại xuất hiện.”

“Lần này có người nhận và thời hạn.”

Tòng gật.

Đêm đó, Kha trực lại. Một nhân viên mới nghe tiếng bíp nhỏ, quay sang hỏi có nên báo không. Kha không bảo “nghe lại đã”. Anh đưa quy trình, cùng người đó ghi mốc. Sau kiểm tra, họ xác định là bộ sạc. Tín hiệu được loại, nhưng bản ghi vẫn giữ.

Người mới hỏi: “Nếu lần nào cũng báo thì có bị nghĩ là không biết phân biệt không?”

Kha nói: “Biết phân biệt không có nghĩa phải im khi chưa chắc.”

Nghi nghe qua bộ đàm, không chen. Kha đang nói bằng điều anh đã học từ những dòng không tên.

Trên sơ đồ, Uyên thêm một ô: “người tiếp nhận thông tin sau khi người báo kết thúc ca”.

Lần đầu, anh không đứng ngoài những gì mình đã nghe. Lần này, cả hệ thống cũng không đứng ngoài anh.

Đã sao chép liên kết chương