Chương 8
Chương 8
Trương Diệu Hân không đưa máy bay tới để chứng minh sân bay sai. Cô đưa một bộ quan sát quang học tới, đặt nó trên xe kéo và yêu cầu mọi người đứng cách đường băng đúng khoảng đã thống nhất.
“Nếu chỉ chụp một tấm đẹp, chúng ta sẽ lại có một bức ảnh đẹp,” Hân nói. “Tôi muốn chuỗi ảnh ở các vị trí khác nhau, cùng tiêu cự, cùng thời gian, cùng độ sáng.”
Tòng nghe trong phòng điều hành, mặt không biểu lộ. “Buổi trình diễn mở tuyến còn chín ngày.”
“Và bài kiểm tra mất một buổi,” Hân đáp.
“Hãng chịu chi phí?”
“Một phần.”
“Phần còn lại?”
“Sân bay chịu.”
Nghi nói: “Chi phí quan sát nhỏ hơn chi phí đoán.”
Tòng quay sang cô. “Cô đang học câu nói của tôi à?”
“Không. Tôi đang dùng bảng chi phí.”
Uyên chuẩn bị giá đỡ. Cô kiểm tra số hiệu thiết bị, pin, thẻ nhớ và góc đặt. Kha lập vùng hạn chế trên sân đỗ. Lan đi quanh mương, cắm cọc để người vận hành không lạc khỏi lối khô. Duy ở tháp, phụ trách xác nhận khi không có máy bay tiếp cận.
Buổi thử được ấn định lúc 19 giờ. Trời từ sáng đã có mây thấp. Gió biển đập vào cửa kính nhà ga, mang theo mùi mặn và cát. Một nhân viên kho lạnh nói nếu kiểm tra kéo dài, xe hàng đêm sẽ phải đổi lịch.
Kha đáp: “Hôm nay không có chuyến đêm.”
“Ngày mai thì có.”
“Vậy hôm nay càng phải làm đúng.”
Nghi thấy Kha đã thôi hỏi ai chịu trách nhiệm. Cậu bắt đầu hỏi mốc nào phải giữ.
Đúng 19 giờ, đèn biên bật mức thấp. Ống kính đặt ở mốc quan sát phía nam. Từ ảnh đầu, hàng đèn trông đều. Ảnh thứ hai, chụp lệch về phía tây, cho thấy bốn điểm sáng cuối không nằm trên cùng đường. Hân yêu cầu không bình luận ngay. Uyên ghi giờ, vị trí, mức sáng và hướng gió.
Tòng đứng sau màn hình, hỏi: “Khác biệt có thể do ống kính không?”
Hân đáp: “Có thể. Vì vậy có ảnh đối chứng.”
Họ đổi thiết bị sang camera khác. Kết quả tương tự, nhưng độ lệch nhỏ hơn. Nghi không thở phào. Hai thiết bị cùng thấy một dấu hiệu chỉ nói rằng dấu hiệu tồn tại, chưa nói nguyên nhân.
Lan yêu cầu dựng một sợi dây mảnh theo mép đường băng thật. Khi camera quay, dây cho thấy bốn đèn cuối nằm lệch ra ngoài một đoạn. Hân phóng lớn ảnh, không dùng bộ lọc màu.
“Đây là hình học không đúng,” Nghi nói.
Tòng hỏi: “Mức nào là không đúng?”
Hân nhìn cô. “Tôi không phải người đặt ngưỡng kỹ thuật của sân bay. Nhưng tôi sẽ không ký rằng hình ảnh này không có vấn đề.”
Tòng đi ra ngoài. Ông nhìn từ ba mốc, đổi vị trí, cúi xuống đường sơn, rồi nhìn đèn. Từ mặt đất, vệt lệch gần như biến mất.
“Nếu tôi đứng đây, tôi thấy một hàng,” ông nói.
“Phi công không nhìn từ một điểm duy nhất,” Duy trả lời qua bộ đàm từ tháp. “Góc nhìn thay đổi khi máy bay tiếp cận.”
“Anh có dữ liệu phi công không?”
“Có báo cáo cũ.”
“Báo cáo cũ không phải bài kiểm tra hôm nay.”
“Nhưng nó trùng mô tả.”
Nghi không để cuộc nói chuyện biến thành tranh luận qua radio. Cô yêu cầu Duy ghi nhận từng câu trong nhật ký.
Đến 20 giờ 15, họ tắt mạch W-3, bật lại qua nguồn dự phòng. Trong tám giây đầu, các đèn phía tây sáng không đồng thời. Hai đèn cuối chậm hơn nửa nhịp, rồi bắt kịp. Bảng điều khiển không báo sự cố.
Uyên gọi: “Chị Nghi, ảnh lần này có khác.”
Trong ảnh, vệt đèn lệch rõ hơn. Khi chuyển tải từ nguồn chính sang máy phát, hệ thống không chỉ giữ hình học sai; nó làm cảm giác sai nhịp trong khoảnh khắc đầu.
Kha nhìn màn hình. “Đây là cái mà anh Duy nói?”
“Một phần,” Nghi đáp.
Tòng hỏi: “Có thể do camera chụp lúc đèn chưa ổn định?”
“Có thể,” Nghi nói. “Nhưng đó là điều kiện khai thác cần kiểm tra, không phải lý do bỏ ảnh.”
Hân quay sang Tòng. “Nếu đèn chưa ổn định sau chuyển nguồn, hãng cần biết thời gian ổn định và quy trình xác nhận.”
Tòng khoanh tay. “Tôi không thể trình bày với tỉnh rằng một bộ đèn cần được nhìn từ tám góc trong khi họ đang chờ ảnh quảng bá.”
“Vậy đừng trình bày ảnh quảng bá,” Hân nói.
Không khí căng. Hân không có quyền đóng sân, Tòng không có quyền sửa dữ liệu cho đẹp, Nghi không có quyền quyết định lịch bay một mình. Mỗi người đứng đúng chỗ nhưng các chỗ đó va vào nhau.
Uyên bất ngờ lên tiếng: “Nếu kiểm tra đủ tám góc, ta có thể xác định điểm nào lặp.”
Mọi người quay sang cô.
Uyên nuốt nước bọt. “Em không nói kết luận. Em nói ta cần cùng một ma trận vị trí. Nếu ở góc nào vệt lệch biến mất, ta biết đó là vấn đề góc nhìn. Nếu ở mọi góc vẫn có, ta biết cần đo lại mốc.”
Hân gật. “Đúng.”
Tòng hỏi: “Cô học việc tên gì?”
“Phạm Nhã Uyên.”
“Cô sẽ làm ma trận đó?”
Uyên nhìn Nghi. Nghi không gật, chỉ nói: “Em đã nghe yêu cầu.”
Uyên đáp: “Vâng. Em làm.”
Họ tiếp tục đến 22 giờ. Mỗi vị trí được đánh mã. Mỗi ảnh giữ nguyên dữ liệu gốc. Nghi yêu cầu không xóa những tấm “xấu”. Lan ghi độ lún cạnh từng cọc. Kha lập danh sách xe đã đi gần vùng kiểm tra. Duy ghi thời gian chuyển nguồn và trạng thái radio.
Khi tất cả kết thúc, trời bắt đầu mưa bụi. Hân tháo thẻ nhớ, niêm phong vào túi.
“Tôi sẽ gửi bản sao cho các anh,” cô nói.
Tòng hỏi: “Và bản kết luận?”
“Chưa có.”
“Hãng cần biết có chạy mô phỏng ngày mai không.”
Hân nhìn Nghi, rồi trả lời: “Tôi cần đọc dữ liệu.”
Nghi hiểu câu đó. Không phải từ chối lịch. Là từ chối dùng lịch để ép kết luận.
Trong phòng kỹ thuật, Uyên lập bảng ma trận trên máy tính. Các cột là góc, điều kiện nguồn, mức sáng, trạng thái nền, hình ảnh. Bốn đèn cuối có dấu bất thường ở năm trên tám vị trí. Khi nguồn dự phòng bật, dấu xuất hiện ở bảy vị trí.
“Chị Nghi,” Uyên nói, “nếu đây là ảo giác ống kính, nó phải thay đổi không theo nguồn.”
Nghi nhìn bảng. “Đúng.”
“Vậy mình đã có…”
“Có một mối liên hệ cần kiểm tra.”
Uyên cười mệt. “Chị không cho em dùng từ nguyên nhân.”
“Chưa.”
Ngoài sân, một người bảo vệ tắt hàng đèn theo lệnh. Bốn ngọn cuối tắt sau cùng, để lại trên mặt đường những vệt nước phản chiếu như một đường băng thứ hai.
Chuyến bay thử không cất cánh. Nhưng dữ liệu đã rời khỏi mặt đất theo cách khác: nó đi qua tám góc nhìn, ba người ghi và một hệ thống không còn được phép gọi là bình thường chỉ vì vẫn sáng.
Trong phòng đào tạo, Uyên trình bày ảnh cho một nhóm chưa tham gia hiện trường. Một nhân viên nhìn ảnh thứ sáu, nói: “Nếu chỉ cho tôi xem ảnh này, tôi sẽ bảo đèn lệch.”
Uyên trả lời: “Đó là ảnh có điều kiện. Muốn dùng, phải xem các ảnh khác, vị trí, nguồn và mốc.”
“Vậy ảnh này có giá trị không?”
“Có, nhưng không tự đủ.”
Nghi nghe, nhận ra Uyên đã học được cách không biến bằng chứng thành một câu chuyện thuận tiện.
Hân gửi bản mô phỏng của hãng. Phi công không nói hệ thống nguy hiểm tuyệt đối. Anh đánh dấu những thời điểm hình ảnh đèn biên khó phân biệt với mép phản sáng, đặc biệt khi chuyển nguồn và mặt đường ướt. Anh đề nghị sân bay ghi rõ khoảng thời gian hệ thống cần ổn định sau chuyển nguồn, nhưng không dùng đánh giá này thay cho kiểm tra cáp.
Tòng hỏi: “Nếu phi công nói chỉ khó chứ không không thể, chúng ta có mở được không?”
Hân đáp: “Mức khó phụ thuộc điều kiện. Nếu ta không biết điều kiện nào làm khó hơn, câu trả lời chưa dùng được.”
Duy thêm: “Và phi công không phải người được yêu cầu thử giới hạn hệ thống để giúp ta hoàn tất hồ sơ.”
Một nhân viên trẻ hỏi vì sao mọi người làm cho việc mở tuyến phức tạp. Hân nhìn qua cửa kính. “Vì chuyến bay là một chuỗi, mắt xích yếu không nằm ở nơi người ta chụp ảnh quảng bá.”
Đêm đó, Tòng cho phép kiểm tra giả lập tải, nhưng không cho bật đèn ở mức khai thác khi nền ướt. Nghi đồng ý. Họ dựng camera ở bốn mốc, không có người đứng trong vùng. Mưa nhỏ làm ảnh khó đọc. Uyên đề xuất chờ mưa dứt, Lan đề nghị ghi điều kiện hiện tại rồi mới chờ.
“Nếu chờ điều kiện đẹp, ta chỉ biết hệ thống trong điều kiện đẹp,” Lan nói.
Họ chụp cả hai giai đoạn. Ảnh mưa cho thấy vệt phản rõ, ảnh khô cho thấy vệt hình học vẫn còn nhưng nhẹ. Nghi đánh dấu hai loại, không trộn.
Kha báo một xe nhà thầu đã dừng ngoài vùng nhưng đèn pha chiếu vào sân. Hân hỏi có phải nguồn sáng ngoài làm ảnh sai không. Nghi yêu cầu tắt đèn xe, chụp lại, rồi ghi thời gian. Kết quả vẫn có vệt lệch.
“Loại trừ được một nguồn phụ,” Uyên nói.
“Một phần nguồn phụ,” Nghi sửa.
“Chị không cho em vui trọn.”
“Vui được. Chỉ cần ghi mình vui vì điều gì.”
Khi mọi người thu thiết bị, Tòng nhận cuộc gọi từ tỉnh. Họ muốn ảnh đẹp để đưa vào tài liệu mở tuyến. Tòng nói chưa thể cung cấp ảnh quảng bá trước khi kết luận. Người bên kia hỏi vì sao.
“Vì ảnh không phản ánh đầy đủ điều kiện,” Tòng đáp.
Sau khi gác máy, ông nói: “Tôi vừa mất cơ hội có một bức ảnh đẹp.”
Nghi hỏi: “Ông có tiếc không?”
“Có. Nhưng tôi không muốn bức ảnh đẹp trở thành lời xác nhận mà mình chưa ký.”
Uyên lưu ảnh vào kho. Cô tạo một thư mục “không dùng truyền thông” cho những ảnh có điều kiện chưa hoàn chỉnh. Kha hỏi có phải giấu không.
“Không,” cô đáp. “Có nhãn để không dùng sai mục đích.”
Duy nói qua bộ đàm: “Tôi thích câu này.”
Gần nửa đêm, Hân rời sân bay. Trước khi đi, cô nói với Nghi: “Tôi sẽ không ép cô mở. Nhưng tôi cần cô nói rõ nếu dữ liệu đủ.”
“Tôi cũng cần cô nói rõ nếu hãng không thể chờ.”
“Được.”
Hai bên không hứa kết quả. Chỉ hứa không dùng sự im lặng để người kia đoán.
Trong tủ lưu trữ, Nghi đặt bản đồ đỏ, bản xanh, ảnh quan sát và báo cáo cũ vào cùng một hộp. Cô ghi mặt hộp: “W-3 — không tách phụ lục lịch sử.”
Lịch sử không làm đèn sáng hơn. Nhưng nếu tách nó ra, người sửa sau sẽ tưởng lỗi bắt đầu từ ngày họ nhận việc.
Chuyến bay thử không cất cánh. Dữ liệu đã đủ để khiến một cuộc trình diễn phải đổi thành một cuộc kiểm chứng, và đó là điều đầu tiên sân bay Vàm Chân làm đúng trước khi có một chiếc máy bay thực sự cần tin vào nó.