Chương 7
Chương 7
Tạm thời là một từ có ngày hết hạn nếu nó được viết trên hộp sữa. Trong hồ sơ sân bay, nó chỉ có ngày khi ai đó đủ kiên nhẫn đặt bút.
Nghi viết câu đó vào đầu trang ghi chú rồi xóa. Câu đúng nhưng không giúp cô thuyết phục ai. Cô thay bằng một bảng: quyết định, người ký, điều kiện, ngày kiểm tra tiếp theo, trạng thái.
Bảng có nhiều ô trống.
Tòng gọi cuộc họp với Vực, Nghi, Uyên, Lan và đại diện kế hoạch. Ông không mời toàn bộ nhân viên vì muốn “xác định phần việc trước”. Nghi hỏi có biên bản không. Tòng đáp có.
“Ai ghi?” cô hỏi.
“Cô.”
“Không. Người chủ trì không nên tự ghi phần mình được hỏi.”
Tòng nhìn cô. “Vậy giao cho Uyên?”
Uyên thẳng người. “Em ghi được.”
“Ghi nguyên văn, không diễn giải,” Nghi dặn.
Cuộc họp diễn ra tại phòng đào tạo. Máy chiếu không dùng được nên Lan trải bản đồ lên bảng. Vực ngồi đầu bàn, hai tay đặt trên đầu gối. Đại diện kế hoạch là bà Lệ, người phụ trách các khoản đầu tư nhỏ và gia hạn bảo trì. Bà mang theo một tập bảng chi phí, không có vẻ muốn cãi.
Tòng mở đầu bằng việc đọc lại tình trạng: đèn sáng, bảng điện bình thường, hình học chưa được xác nhận, hộp số 17 lệch so với bản đồ. Sau đó ông gọi Vực giải thích lịch sử.
Vực nói rõ đợt lún nền tám năm trước, tuyến cáp tạm, đề nghị thay toàn bộ và các lần gia hạn. Ông không bỏ qua chuyện mình ký. Uyên ghi rất nhanh.
Bà Lệ hỏi: “Tại sao đề nghị thay mạch không được phê duyệt?”
“Kinh phí ưu tiên khu thoát nước và mái nhà ga,” Vực đáp.
“Có văn bản từ chối không?”
“Có thư trả lời: chờ bố trí.”
“Ai theo dõi?”
Vực nhìn Tòng. “Bộ phận khai thác.”
Tòng không phủ nhận. “Sau khi ông Vực nghỉ chính thức, hồ sơ chuyển qua tôi. Tôi biết có một hạng mục chờ vốn, nhưng không biết nó liên quan trực tiếp đến mạch đèn biên.”
Nghi hỏi: “Trong hồ sơ có chữ ‘mạch W-3’ không?”
Tòng lật tập giấy. “Có mã khu vực, không có mã mạch.”
Lan chỉ vào bản đỏ. “Người hiện trường biết mã. Người ở bàn giấy không biết.”
Bà Lệ nhìn Lan. “Vậy tại sao người hiện trường không cập nhật?”
Lan trả lời: “Có cập nhật vào sổ ca. Sổ ca không vào hồ sơ đầu tư.”
Uyên ngẩng lên. “Sổ ca ở đâu?”
Không ai đáp ngay.
Nghi nói: “Tìm.”
Tòng cho phép mở kho lưu trữ nhân viên. Uyên và Kha đi tìm. Một giờ sau, họ trở về với sáu quyển sổ bìa nhựa. Các trang có mùi dầu, mực nhòe, nhiều chỗ gạch xóa. Từ khóa W-3 xuất hiện ở ít nhất bảy ca kiểm tra sau mưa. Có dòng “đã quan sát”, “có chênh ánh sáng”, “chờ nền ổn định”. Không dòng nào được chuyển thành yêu cầu dừng sân.
Nghi hỏi Lan: “Bà đã từng báo?”
Lan không tránh. “Tôi báo miệng với trưởng ca. Một lần ghi vào sổ.”
“Vì sao không lập phiếu?”
“Phiếu cần mã lỗi. Tôi chỉ thấy đất quanh hộp thấp.”
“Bà nghĩ người khác sẽ hiểu?”
“Tôi nghĩ người làm hiện trường hiểu.”
Nghi hạ giọng. “Đó là một phần vấn đề.”
Lan gật, nhận phần trách nhiệm. “Đúng.”
Vực nhìn những quyển sổ. “Tôi đã không biết có nhiều dòng như vậy.”
“Ông không hỏi,” Nghi nói.
“Đúng.”
“Và sau khi ông nghỉ, người khác không biết phải đọc chúng.”
“Đúng.”
Tòng nhắm mắt. Những chữ “đúng” của Vực làm căn phòng khó chịu hơn một cuộc cãi vã.
Bà Lệ hỏi chi phí thay mạch. Nghi trình bày ba phương án: thay toàn bộ với thời gian đóng sân dài; thay đoạn W-3 với điều kiện kiểm tra định kỳ; hoặc tiếp tục dùng mạch hiện tại với rủi ro chưa định lượng. Cô không xếp thứ tự thay cho người quyết định.
“Nếu chọn phương án hai?” bà Lệ hỏi.
“Phải đo lại toàn bộ mốc đèn, lập bản đồ số, xác định vị trí hộp, kiểm tra sau mùa nước và có người chịu trách nhiệm.”
“Nếu chưa có kinh phí trong mười ngày?”
“Không khai thác đêm.”
Tòng nhìn cô. “Cô đang đưa quyết định vận hành vào báo cáo kỹ thuật.”
“Tôi đang ghi điều kiện để kỹ thuật không bị dùng như lời bảo đảm vô thời hạn.”
Bà Lệ hỏi: “Ai ký câu ‘không khai thác đêm’?”
Nghi nói: “Người có thẩm quyền vận hành.”
“Vậy cô không ký?”
“Tôi ký rằng dữ liệu hiện tại chưa đủ để xác nhận an toàn hình học.”
Uyên ghi câu đó. Nghi nhìn cô, thấy tay cô không còn ấn bút quá mạnh.
Tòng kết luận buổi họp bằng một danh sách mới: kiểm tra góc nhìn trên cao, kiểm tra chuyển tải máy phát, dò vị trí hộp số 17, rà các sổ ca và chuẩn bị báo cáo mở tuyến có điều kiện. Ông không nói sân bay đóng. Cũng không nói vẫn mở.
Vực ở lại sau khi mọi người đi. Ông cầm quyển sổ có dòng chữ của Lan.
“Cô giận tôi,” ông nói với Nghi.
“Có.”
“Vì tôi ký?”
“Vì ông biết từ ‘tạm’ cần một ngày kiểm tra tiếp theo, nhưng không buộc ai ghi ngày.”
Vực vuốt bìa sổ. “Tôi nghĩ mình có thể giữ việc trong tay.”
“Ông không thể giữ một sân bay bằng trí nhớ.”
“Tôi biết bây giờ.”
“Ông phải biết lúc đó.”
Vực gật. Ông không xin lỗi ngay. Một lời xin lỗi đặt sớm có thể trở thành cách tránh nghe hết. Ông chỉ hỏi: “Cô muốn tôi làm gì?”
“Gọi cho những người từng nhận bản đồ. Hỏi họ đã làm gì với nó.”
“Cô không muốn tôi viết lời giải thích?”
“Cháu muốn sự kiện.”
Vực lấy điện thoại. Ông gọi người đầu tiên. Một giọng phụ nữ ở đầu dây nói đã chuyển công tác. Vực hỏi về bản đồ, về hộp số 17, về lần kiểm tra sau mùa nước. Ông ghi. Khi cuộc gọi kết thúc, ông không nhìn Nghi.
Uyên quay lại lấy sổ, nghe được đoạn cuối. Cô hỏi: “Em có cần ghi cả cuộc gọi không?”
Nghi nói: “Ghi thời gian, người liên hệ, thông tin họ cung cấp. Không ghi suy đoán.”
Uyên gật.
Ngoài sân, hệ thống đèn được bật thử. Hàng đèn sáng liền từ mặt đất. Từ phòng họp, không ai nhìn thấy độ lệch.
Nghi quay lại bảng quyết định. Một ô mới được thêm: “tạm thời cho đến ngày nào?”
Cô để trống.
Không ai còn được phép coi ô trống đó là một lời hứa.
Sau cuộc họp, Uyên ngồi lại để chuyển biên bản âm thanh thành văn bản. Cô nghe từng đoạn, dừng khi giọng ai đó chồng lên nhau, không tự đoán câu bị mất. Ở chỗ không nghe rõ, cô ghi [không rõ] thay vì dùng nội dung mọi người có thể nghĩ là đã nói.
Nghi đi ngang, hỏi: “Em có cần làm hết đêm không?”
“Không. Nhưng nếu để mai, em sẽ quên âm thanh.”
“Tạo bản nháp, lưu thời gian. Mai nghe lại.”
Uyên làm theo. Cô học thêm một cách giữ sự không chắc: không phải để che nó, mà để người sau biết chỗ cần nghe lại.
Tòng ban hành một thông báo tạm về kênh báo. Nhân viên được phép gửi trực tiếp cho bộ phận kỹ thuật, vận hành và an toàn cùng lúc. Người nhận phải phản hồi đã nhận trong một giờ. Không phải báo cáo nào cũng thành sự cố, nhưng không báo cáo nào được biến mất vì không ai biết hộp thư.
Kha hỏi: “Nếu người báo chỉ có điện thoại cá nhân?”
“Có mẫu giấy ở phòng trực.”
“Nếu đang ngoài sân?”
“Bộ đàm, sau đó ghi lại.”
“Nếu mất sóng?”
Tòng nhìn Nghi. Nghi nói: “Có người đi cùng ca. Người báo không phải tự lo cả đường truyền.”
Thông báo không giải quyết hết nỗi sợ. Một nhân viên vẫn hỏi Nghi riêng rằng nếu họ báo mạch chập chờn rồi sau đó không tìm thấy lỗi, có bị coi là làm phiền không.
Nghi trả lời: “Không. Nếu ghi đúng điều kiện và thời gian, đó là quan sát có giá trị.”
“Nếu tôi báo nhiều lần?”
“Lặp lại cũng là dữ liệu nếu cùng điều kiện.”
Người kia gật, nhưng vẻ lo vẫn còn. Nghi biết niềm tin cần nhiều lần phản hồi, không phải một thông báo.
Vực gọi cho trưởng bộ phận kế hoạch cũ. Người đó đã nghỉ, nhưng nói nhớ bản đề nghị thay mạch. Ông bảo khi ấy có một cuộc họp, quyết định ưu tiên mái nhà ga. Không có biên bản vì họp qua điện thoại. Vực xin ông viết một bản ghi nhớ hồi ức. Người kia từ chối.
“Tôi không muốn sau này bị hỏi vì sao không ký.”
Vực đáp: “Tôi cũng đã từng sợ bị hỏi.”
“Vậy ông hiểu.”
“Hiểu nên mới gọi.”
Cuộc gọi kết thúc. Vực ghi rõ không nhận được hồi ức. Nghi thấy ông đã bắt đầu làm điều mà trước đây ông không làm: ghi lại cả sự vắng mặt của câu trả lời.
Lan đưa Uyên ra mương, chỉ cho cô đọc dòng nước. Bà bảo nhìn mặt nước chưa đủ; phải nhìn rác mắc ở đâu, cỏ nghiêng hướng nào và bùn bám lên cọc ra sao. Uyên chụp ảnh, ghi vị trí. Lan không nói “em học được rồi”. Bà hỏi lần sau cọc nào cần thêm mốc đối chứng.
Uyên trả lời đúng.
Buổi tối, Tòng nhận email của tỉnh yêu cầu báo cáo “không gây hoang mang”. Ông chuyển cho Nghi, hỏi có thể dùng từ “đang tối ưu” thay cho “chưa xác nhận” không.
Nghi trả lời: “Không. Tối ưu là hành động cải thiện; hiện tại ta đang đánh giá điều kiện.”
Tòng gọi. “Cô biết tôi đang cố giảm hiểu lầm.”
“Vậy dùng câu ‘đang đánh giá có kiểm soát’.”
“Có kiểm soát được không?”
“Có vùng hạn chế, người phụ trách, dữ liệu gốc và lịch cập nhật.”
“Được.”
Ông sửa thông báo. Câu cuối ghi “không có chuyến bay đêm nào được khởi hành khi chưa có xác nhận bằng văn bản”. Nghi đọc, thấy câu đó là một cánh cửa rõ ràng.
Ngày thứ hai của giai đoạn kiểm chứng, ma trận ảnh đã có hơn một trăm tấm. Uyên tìm ra ba ảnh bị đặt sai mốc. Cô tự báo, tạo lại từ bản gốc. Nghi không trách. Cô chỉ yêu cầu ghi lý do để người sau không dùng bản sai.
“Em cứ nghĩ phát hiện lỗi là làm mất điểm,” Uyên nói.
“Lỗi phát hiện trước khi dùng là điểm của hệ thống.”
“Còn lỗi giấu đi?”
“Là khoản nợ.”
Uyên nhìn ô trống trên bảng. “Tám năm là khoản nợ lớn.”
“Vì nhiều người nghĩ mình đang trả bằng việc tiếp tục làm.”
Chiều muộn, Tòng ký lệnh giới hạn ca đêm. Kha chuyển thông báo tới kho lạnh. Duy cập nhật tháp. Hân nhận bản. Vực nhận phụ lục. Từng người không còn giữ một bản riêng không ai biết.
Ô trống “tạm thời cho đến ngày nào?” được điền bằng ngày cuộc họp tỉnh.
Nghi nhìn nó. Một ngày hết hạn không làm giải pháp đúng hơn, nhưng nó ngăn sự im lặng trôi vô hạn.