Vệt Sáng Ngoài Đường Băng
9 phút đọc

Chương 2

Chương 2

Sân bay Vàm Chân có lịch riêng, được viết bằng tiếng máy phát, tiếng xe đẩy hành lý và tiếng người gọi nhau qua những khoảng tường cách âm. Khi Tòng mở cuộc họp lúc bảy giờ ba mươi, kho lạnh phía tây vừa chuyển xong một lô tôm, bến phà đang dồn khách lên chuyến sớm, còn phòng vé phải giải thích với ba người rằng đường bay đêm chưa bán vé.

“Mười một ngày nữa chỉ là dự kiến,” Tòng nói, đứng trước màn hình trình chiếu. “Nhưng nếu không chứng minh được sân bay sẵn sàng, hãng sẽ chuyển nguồn lực sang sân khác. Vàm Chân mất chuyến đêm thì hàng đông lạnh không đi kịp, nhân viên kho giảm ca, nhà nghỉ mất khách, và tuyến xe buýt cuối cùng cũng đổi giờ.”

Nghi ngồi ở cuối bàn, báo cáo sự cố đặt trước mặt. Cô chưa mở ảnh hộp nối.

“Tôi không phản đối mở tuyến,” cô nói. “Tôi phản đối việc gọi hệ thống sẵn sàng khi có điểm chưa xác định.”

Một người phụ trách khai thác hỏi: “Điểm đó có làm đèn tắt không?”

“Chưa.”

“Có làm bảng báo lỗi không?”

“Chưa.”

“Có máy bay gặp sự cố vì nó chưa?”

Nghi nhìn ông ta. “Chưa.”

Tòng đưa tay ra hiệu dừng. “Chúng ta sẽ không tranh luận bằng những việc chưa xảy ra. Đội kỹ thuật có bốn mươi tám giờ để kiểm tra mạch W-3. Trong thời gian đó, lịch mở tuyến vẫn giữ.”

“Tôi cần ba ngày,” Nghi nói.

“Cô chưa kiểm tra bước đầu.”

“Tôi biết mạch có thể sáng đủ nhưng sai hình học. Nếu muốn xác định, phải đo từ nhiều vị trí, mở hộp nối, đối chiếu bản đồ cáp và chạy thử khi máy phát chuyển tải.”

Tòng nhìn lịch. “Bốn mươi tám giờ trước, chúng ta có thể làm phần nào?”

“Mở hộp số 17 và đo khoảng cách đèn.”

“Làm đi.”

Cuộc họp kết thúc bằng một danh sách công việc. Nghi được ghép với Uyên, Hồ Bội Lan và Lê Minh Kha. Lan phụ trách kiểm tra khu vực sân; Kha phụ trách liên lạc sân đỗ và hỗ trợ khóa vùng; Uyên theo Nghi học ghi nhận.

Kha đến muộn năm phút, mang theo hai bộ đàm và khuôn mặt của người vừa nghe quá nhiều người gọi mình. “Ai đặt tôi vào mạch đèn?”

“Không ai đặt em vào mạch,” Nghi đáp. “Em giữ đường vào và báo nếu có người hoặc xe đi vào vùng kiểm tra.”

“Tức là đứng ngoài nhìn.”

“Đứng ngoài đúng chỗ cũng là một việc.”

Kha nhìn Uyên, cười nhạt. “Học việc được cầm hộp dụng cụ, em được cầm bộ đàm.”

“Bộ đàm gọi được nhiều người hơn hộp dụng cụ,” Uyên đáp.

Nghi không cười, nhưng thấy Uyên đã biết tự giữ chỗ của mình.

Hồ Bội Lan đến sau cùng, trên tay có một xấp bản đồ giấy cuộn lại. Bà đặt nó lên mui xe bảo trì, hỏi Nghi có muốn xem bản đồ trước hay đi kiểm tra hiện trường trước.

“Hiện trường trước,” Nghi nói.

“Tốt. Bản đồ thường khiến người ta nhìn theo đường đã vẽ thay vì đường nước đã chảy.”

Họ đi ra phía tây. Bầu trời sáng nhưng gió biển thổi mùi muối qua những hàng cỏ thấp. Đường băng được làm trên nền lấn biển, hai bên là mương thoát nước và những cọc đánh dấu không còn thẳng hàng. Hộp số 17 nằm cách mép đường băng một đoạn, dưới nắp kim loại phủ sơn đen.

Nghi yêu cầu Kha báo khóa khu vực. Kha phát qua bộ đàm: “Khu kiểm tra W-3, không cho xe qua trong mười phút.”

Một xe chở thùng hàng từ xa bấm còi. Kha phải giải thích hai lần. Người lái xe hỏi nếu chậm mười phút thì ai chịu trách nhiệm.

“Tôi ghi tên anh vào biên bản kiểm soát vùng,” Kha đáp. “Anh muốn đi qua không?”

Xe dừng.

Uyên nhìn Kha khác đi. Không phải ai cũng cần đứng dưới tủ điện để làm việc chính xác.

Nghi mở nắp hộp. Bên trong có bốn đầu nối, một miếng đệm cao su đã chai và vệt nước khô thành vòng quanh đáy. Lan dùng que đo độ ẩm, không chạm vào dây.

“Nước vào từ phía bắc,” bà nói.

“Dựa vào đâu?”

Lan chỉ đường muối mỏng trên thành hộp. “Nước để lại nhiều hơn ở phía này. Mặt đất bên kia cao hơn một chút.”

Nghi đo khoảng cách từ hộp đến cột đèn gần nhất. Trên bản vẽ bảo trì, hộp số 17 nằm giữa đèn 17B và 17C. Thực địa, nó gần hơn về phía 17C. Sai số không lớn, nhưng đủ để đường cáp chạy vòng.

Uyên cầm thước, đo lại. “Chị, khoảng cách này lệch ba mươi tám centimet.”

“Ghi cả điểm đo.”

“Có thể do họ đo từ mép đường khác.”

“Đừng giải thích thay bản đồ.”

Lan tháo găng, chỉ vào nền đất cạnh hộp. “Cọc này đã được di chuyển. Màu sơn cũ nằm thấp hơn lớp sơn hiện tại.”

Nghi quỳ xuống. Quả thật, dưới lớp sơn trắng có một đường đỏ cũ, chạy lệch về phía đầm lầy.

Kha nhìn ra đường băng. “Nếu hộp dịch chuyển, đèn có dịch chuyển theo không?”

“Thân đèn không,” Nghi nói. “Cáp nối tới đèn có thể bị kéo, hộp nối và mốc đo thì không còn cùng vị trí.”

“Bảng vẫn báo dòng.”

“Dòng điện không biết cái đèn đang đứng ở đâu.”

Tòng xuất hiện đúng lúc đó cùng một người phụ nữ mặc áo khoác hàng không màu xám. Người phụ nữ giới thiệu là Trương Diệu Hân, đại diện hãng bay sẽ khai thác tuyến đêm. Hân không hỏi ai là người phụ trách. Cô nhìn hộp nối, rồi nhìn hàng đèn từ vị trí xe.

“Từ đây tôi thấy gì?” Hân hỏi.

Nghi chỉ cho Uyên đứng ở cọc quan sát. Uyên đứng, rồi đổi vị trí theo yêu cầu. Từ vị trí của Hân, bốn đèn cuối gần như thành một hàng.

Hân bước thêm mười mét. “Ở đây thì khác.”

“Đó là điểm cần kiểm tra,” Nghi nói.

Tòng chen vào: “Nhưng máy bay không nhìn từ mặt đất.”

Hân quay sang ông. “Đúng. Vì thế tôi muốn biết từ góc cao có gì.”

Nghi chưa kịp nói, Hân tiếp: “Hãng không muốn chuyến mở tuyến bị hủy. Nhưng phi công cũng không nhận một đường băng bằng lời hứa. Tôi cần báo cáo có mốc, ảnh, điều kiện và người chịu trách nhiệm.”

Tòng nhìn Nghi như muốn nhắc cô đừng biến Hân thành đồng minh quá sớm.

“Chúng tôi sẽ đưa dữ liệu,” Nghi đáp.

Hân gật, rồi rời đi cùng Tòng.

Lan cuộn lại bản đồ. “Cô ấy nói được.”

“Cô ấy cũng đang chịu áp lực.”

“Ai ở đây không chịu?”

Nghi mở hộp kỹ thuật lần nữa. Vệt sơn đen chạy qua con số 17. Cô cạo một mảnh nhỏ ở góc, lộ ra chữ “T” và một đường mũi tên đã bị phủ.

Uyên nhìn. “Có phải tuyến cáp cũ không?”

“Chưa biết.”

“Chị có thể chụp.”

Nghi đưa điện thoại cho cô. Uyên chụp toàn cảnh, cận cảnh, rồi chụp cùng thước đo. Lần này tay cô không run.

Khi họ trở lại phòng kỹ thuật, bảng điều khiển vẫn xanh. Nghi yêu cầu chạy từng mức sáng. Cả bốn đèn cuối bật, tắt, bật lại theo lệnh. Không chập. Không báo lỗi.

Kha đứng ở cửa, hỏi: “Vậy ta kết luận gì?”

Nghi nhìn dòng điện ổn định, rồi nhìn bức ảnh hộp nối. “Kết luận hôm nay là chúng ta chưa được phép kết luận.”

Uyên mở bản đồ giấy trên bàn. Tờ bản đồ có một đường cáp xanh chạy thẳng, không vòng, không lệch. Bên dưới mép giấy có một con dấu cũ bị xé nửa.

Nghi lật mặt sau.

Một đường bút chì mờ chạy vòng qua vùng đất yếu, kết thúc ở đúng hộp số 17.

Ai đó đã từng biết bản đồ này không còn đúng.

Nghi mang tờ bản đồ vào phòng photocopy, không đưa thẳng cho Tòng. Cô tạo hai bản sao: một bản giữ nguyên, một bản đánh dấu bằng giấy trong suốt. Uyên được giao đặt các mốc thực địa lên lớp trong. Cô làm chậm, vì mỗi khi kéo thước qua một đường màu, cô sợ mình làm rách giấy cũ.

“Giấy không được phép quyết định tốc độ của mình,” Nghi nói.

“Nhưng làm rách thì mất chứng cứ.”

“Vậy đặt tấm bảo vệ.”

Uyên tìm một tấm nhựa mỏng. Hai người làm lại. Khi lớp trong phủ lên bản đồ, đường cáp xanh chạy lệch khỏi hộp số 17 như một sợi dây buộc nhầm vào cọc khác. Bản đồ không nói hộp đã dịch. Nó chỉ cho thấy người dùng nó sẽ đi tìm ở một nơi khác.

Lan nhìn bản sao, chỉ vào vùng mương. “Năm đó, cọc mới đặt bên này vì xe thi công không vào được phía lún.”

“Có ghi không?” Nghi hỏi.

“Tôi nói với người dựng.”

“Người dựng có ghi?”

Lan im lặng. “Không biết.”

Nghi viết thêm một câu vào bảng: “Kinh nghiệm hiện trường chưa được gắn với danh tính và hồ sơ.” Bà Lệ sau này có thể hỏi vì sao một câu như thế cần thiết. Nhưng nếu không ghi, người dựng cọc sẽ tiếp tục là một khuôn mặt không ai truy được khi bản đồ sai.

Trương Diệu Hân gửi tin nhắn xác nhận hãng đồng ý hỗ trợ thiết bị quan sát, nhưng yêu cầu mọi hình ảnh không bị chỉnh màu. Uyên đọc, hỏi: “Họ sợ mình làm ảnh đẹp hơn à?”

“Ai có dữ liệu cũng sợ người khác chỉ giữ phần có lợi.”

“Sân bay có quyền không cho hãng xem không?”

“Có quyền. Nhưng nếu giữ hết, ta sẽ khó yêu cầu họ tin kết quả.”

Tòng nghe thấy, nói: “Dữ liệu phải có quy định chia sẻ, không phải ai muốn lấy gì thì lấy.”

Nghi đáp: “Đúng. Bản gốc lưu chung, bản làm việc có quyền truy cập, mọi bản sao ghi người nhận.”

Tòng gật. Ông đang bắt đầu hỏi những câu thuộc về hồ sơ chứ không chỉ lịch.

Cuối buổi, Nghi đi cùng Kha tới cổng khu phía tây. Kha chỉ cho cô những vết bánh xe thường chạy tránh mương. Một đường vòng lâu ngày đã thành đường chính, dù không có trong sơ đồ giao thông nội bộ.

“Có thể đường này làm nền bị nén khác,” Nghi nói.

“Xe nặng đi mỗi tối. Người ta chọn vì gần kho.”

“Em đã báo chưa?”

“Em nói với trưởng ca.”

“Có ghi?”

Kha lắc đầu.

Nghi nhìn anh. “Từ hôm nay, nói xong phải ghi.”

Kha không phản đối. “Nếu việc gì cũng ghi, sổ sẽ đầy.”

“Tốt. Một sổ đầy thông tin còn hữu ích hơn một sổ sạch vì không ai dám viết.”

Kha cầm bộ đàm, gọi đội xe tạm tránh lối này. Người bên kia hỏi đến bao giờ. Kha nói “đến khi có kiểm tra nền”, không nói “đến mai”.

Chiều xuống, bản đồ trong suốt được đặt lên mặt kính. Đường xanh, đường đỏ và đường thực tế tạo thành ba hướng khác nhau. Không hướng nào tự nói mình là sự thật cuối cùng. Nghi dán nhãn phiên bản, ghi người lập và giờ.

Uyên hỏi: “Chị nghĩ ai sẽ bị mắng?”

“Có thể là người đầu tiên phát hiện.”

“Vì sao?”

“Vì người đó làm cho vấn đề trở nên không thể không nhìn.”

Uyên đặt bút xuống. “Vậy em sẽ nhớ tên mình trên ảnh.”

Nghi gật. Ngoài sân, gió đổi hướng. Hàng đèn tối, nhưng chiếc hộp số 17 vẫn nằm dưới lớp sơn đen, giữ lại một đường cáp mà bảng điều khiển chưa từng biết cách gọi tên.

Đã sao chép liên kết chương