Chương 16
Chương 16
Ta siết chặt dây cương trong tay. Đóa hoa này... Nhất định là hắn đã tra cứu rất kỹ rồi. Hắn từ trước đến nay chưa từng làm chuyện gì vô nghĩa. Hắn nhét một đóa hoa khô vào trong phong thư. Vậy thì nhất định đã từng tra cứu dược tính của loài hoa ấy. Hoa mộc tê. Lý khí giải uất. Hắn không phải đang nói về thời tiết. Hắn đang nói rằng... Ta hiểu nàng. Tiết Tố Vấn cưỡi con ngựa thấp chân của nàng đi bên cạnh. Lại bắt đầu ngân nga khúc dân ca vừa hát dang dở lúc nãy.
“Tỷ tỷ nơi vườn nam hái hồng đậu... gió thổi váy lụa hé nửa vạt đào...”
Tiếng hát của nàng hòa lẫn với tiếng chuông leng keng trên cổ con la. Theo suốt cả chặng đường. Ta lấy bức thư từ trong ngực áo ra. Lại nhìn dòng chữ cuối cùng một lần nữa.
“Bình an, chớ nhớ.”
Sau đó cẩn thận gấp bức thư lại. Áp sát vào trước ngực. Cất thật kỹ. Rồi khẽ đá vào bụng con la. 10 (Đại kết cục) Năm năm sau. Trong một con hẻm ở phía nam thành Đoan Châu, có một y quán tên là “Thanh Chỉ Đường”. Cái tên này là chủ ý quỷ quái của Tiết Tố Vấn.
“‘Chỉ’ là bạch chỉ.”
“‘Thanh’ là chữ Thanh của ngươi.”
“‘Đường’ thì chính là đường.”
“Ghép lại vừa nhã nhặn, lại không quá phô trương.”
Về sau có một ngày, ta lật tới trang viết về bạch chỉ trong cuốn 《Bản Thảo》. Nhìn thấy trên sách ghi ngay ngắn dược tính của vị thuốc ấy:
“Bạch chỉ, vị cay, tính ấm, quy kinh phế vị, có tác dụng khu phong tán hàn.”
Ta chợt nhớ tới nụ cười lười biếng của nàng khi thuận miệng đặt cái tên này. Lúc ấy mới hiểu. Vì sao nàng không dùng hai chữ Đương Quy. Cũng không dùng hai chữ Viễn Chí. Mà nhất quyết phải dùng hai chữ Bạch Chỉ. Nàng từng nói:
“Bạch chỉ trị chứng nghẹt mũi đau đầu.”
“Cũng trị khí hư đới hạ.”
“Vị thuốc chuyên chữa bệnh của nữ nhân.”
“Rất hợp để làm tên cho y quán của nữ nhân.”
Ngày Thanh Chỉ Đường khai trương. Chỉ đốt nửa dây pháo. Tiết Tố Vấn chê ít. Lại chạy vào phòng bếp lấy thêm một dây nữa mang ra đốt.
“Ồn thì có ồn thật.”
“Nhưng may mắn.”
Y quán không lớn. Ba gian phía trước được đập thông với nhau để làm nơi khám bệnh. Hai gian phía sau dùng để ở. Chiếc bàn khám bệnh là bàn gỗ du cũ mua lại từ người khác. Bốn chân bàn không đều nhau. Ta lấy hai mảnh ngói vỡ kê xuống. Cũng coi như vững vàng. Tủ thuốc thì mời thợ mộc đóng mới. Trên mỗi ngăn kéo đều dán thẻ tên dược liệu. Chữ trên đó là do chính tay ta viết. Năm đầu tiên mở quán. Không có bao nhiêu bệnh nhân. Trong thành Đoan Châu vốn đã có hai y quán lâu năm. Một vị đại phu họ Tiền. Một vị đại phu họ Vệ. Đều là những lão tiên sinh râu tóc bạc trắng. Gia đình ba đời hành nghề y. Người dân có bệnh, đương nhiên sẽ không chạy tới con hẻm nhỏ phía nam thành để tìm một nữ y trẻ tuổi khám bệnh. Những người tới đây phần lớn đều là các thẩm tử và đại nương sống quanh vùng. Các bà ấy không phải tới để khám bệnh. Mà là tới chơi. Tay xách đế giày. Ngồi trong đại sảnh vừa khâu vừa trò chuyện. Tiện thể để ta bắt mạch một chút. Bắt mạch xong liền cười nói:
“Bàn tay của Hạ đại phu mềm thật đấy.”
Sau đó lại hỏi ta đã thành thân chưa. Ta nói chưa. Các bà ấy liền thở dài:
“Một cô nương tốt như vậy, sao không tìm một nhà tử tế mà gả đi?”
Rồi ngày hôm sau. Lại dẫn theo một bà mối tới cửa. Bà mối ngồi đối diện bàn khám. Đánh giá ta từ trên xuống dưới. Hỏi ngày sinh tháng đẻ. Lại hỏi của hồi môn có bao nhiêu. Cuối cùng hạ thấp giọng:
“Cô nương mở y quán, ngày ngày xuất đầu lộ diện.”
“Có vài gia đình sẽ để ý chuyện này.”
“Hay là trước tiên đóng y quán lại đi?”
“Vậy thì bà cứ tìm cho ta một gia đình không để ý chuyện đó.”
Bà mối đi rồi. Từ đó về sau không quay lại nữa. Sang năm thứ hai. Ở Thanh Chỉ Đường có một đứa trẻ sốt cao giữa đêm. Sốt đến mức co giật. Mẫu thân của nó ôm con chạy khắp nửa tòa thành. Gõ cửa các hiệu thuốc nhưng không nơi nào mở. Cuối cùng gõ đến cửa của ta. Ta dùng sài hồ phối hợp với thạch cao. Lại lấy rượu xoa lòng bàn tay và lòng bàn chân cho đứa trẻ. Canh giữ tới tận sáng. Đến khi cơn sốt hoàn toàn lui xuống. Hiện giờ đứa bé ấy khỏe mạnh như một con bê con. Gặp ai cũng nói:
“Hạ đại phu đã cứu mạng ta.”