Những Người Trồng Sao
9 phút đọc

Chương 10

Chương 10

Mạng vệ tinh mất tín hiệu vào lúc 11 giờ 43, khi Hạ đang đo nhiệt độ phòng lọc và Cư đang thay dây curoa cho một máy bơm. Tivi ở quán bà Mùi hiện một màn hình xanh, rồi chuyển sang dòng chữ “đang cập nhật”. Điện thoại của mọi người vẫn có sóng, nhưng bản đồ thời tiết đứng yên ở giờ hôm trước.

Lam biết chuyện không phải vì thông báo. Cô biết vì đồng hồ định vị của bốn hạt sao cùng lệch 17 giây.

“Sao Xám,” Bách nhắn trong nhóm kỹ thuật. “Bão Mặt Trời làm mạng định vị và liên lạc vệ tinh mất ổn định. Không hoảng. Trung tâm chuyển sang dự báo mặt đất.”

Cư đọc tin, nói: “Dự báo mặt đất là gì?”

“Trạm ven bờ, radar, quan sát thủ công.”

“Vậy Vườn Sao vẫn còn?”

Lam nhìn màn hình. Năm trạm mặt đất gửi được. Hạt V-19 gửi đứt. V-20 đã mất từ trước. Bộ thu hộp xanh của Mây Mỏng không hiện.

“Còn,” cô nói. “Nhưng không biết chúng ta đang định vị theo thời gian nào.”

Miên ngồi cạnh, vặn đồng hồ cơ trên bàn. Em đặt một chiếc đèn rung cạnh bộ thu. Khi các gói tin tới lệch, đèn rung nhịp không đều.

“Em muốn chuyển sang giờ trạm?” Lam hỏi.

Miên gật, viết: “Không dùng vệ tinh. Dùng còi trường.”

Trường cũ có một chiếc đồng hồ cơ đã chạy chậm hai phút. Thảo Nhi nói trước đây là nơi người dân chỉnh giờ cho tàu, bằng cách nghe bản tin radio. Bây giờ radio quốc gia vẫn phát nhưng tín hiệu từ vệ tinh chập chờn.

Bách gọi qua đường mặt đất. Giọng anh nhỏ, nhiều nhiễu.

“Trung tâm mất lớp ảnh mây toàn khu vực,” anh nói. “Radar vẫn còn nhưng vùng Vạn Sương nằm ở rìa quét. Chúng tôi không thể đưa bản đồ cập nhật.”

“Mất bao lâu?” Lam hỏi.

“Tối thiểu 48 giờ, có thể 72.”

“Sao Xám có làm gió mặn không?”

“Không trực tiếp. Nó làm dữ liệu vệ tinh thiếu, không làm thời tiết đổi theo ý.”

“Vậy lớp gió vẫn là chuyện Mây Mỏng?”

“Chưa kết luận.”

“Chúng tôi cần biết nhanh.”

“Tôi sẽ xin kênh ưu tiên.”

“Không. Hãy gửi cách chúng tôi ghi dữ liệu để anh dùng được khi hệ thống trở lại.”

Bách dừng. “Cô muốn chuẩn bị cho việc không ai nhìn thấy mình.”

“Chính xác.”

Ở trạm y tế, Hạ không đợi. Chị chia người thành ba nhóm: kiểm tra nhà có bệnh hô hấp, mang nước tới khu lò muối, và đi từng hộ nhận trạm. Chị bảo họ không dùng từ “bão” vì chưa có bão; chỉ nói mạng vệ tinh đang chập chờn, dữ liệu địa phương cần theo dõi.

“Nếu người ta hỏi có nguy hiểm không?” một tình nguyện viên hỏi.

“Nói nguy hiểm chưa xác định. Hướng dẫn việc không nguy hiểm.”

Câu ấy được viết lên bảng, dưới bốn dòng quy ước của Lam.

Cư tập hợp những người đi biển ở xưởng. Anh vẽ luồng nước lên tấm ván, dựa vào phao, mùi máy và nhiệt kế. Một ngư dân nói gió trên mặt đầm vẫn đông nam. Người khác nói cá ở vùng mái phản xạ đổi hướng.

“Không ai ra ngoài vùng đầm chiều nay,” Cư quyết.

“Anh có quyền gì?” một người hỏi.

“Không có. Tôi nói ý kiến.”

“Vậy đừng nói như lệnh.”

Cư xóa chữ “cấm” trên ván, viết “không khuyến nghị; ai đi tự ghi thời gian và điểm.”

Lam đứng ngoài nghe. Cư cũng đang học cách nói mức chắc chắn.

Trưa, trạm Vòm gửi một chuỗi áp suất tăng, trong khi Chòi và Rau tăng độ mặn. Không có ảnh mây để đối chiếu. Lam khoanh vùng trên bản đồ giấy, ghi một đường cung từ bãi phản xạ tới trường.

Thảo Nhi đưa ra một bộ dụng cụ thiên văn cũ. Bà bảo khi vệ tinh mất, người ta thường tưởng bầu trời mù. Nhưng có thể dùng sao để kiểm tra giờ, dùng bóng để kiểm tra hướng, dùng mùi để kiểm tra đất. Không phương pháp nào đủ một mình.

“Bà muốn chúng ta nhìn sao thật?” Lam hỏi.

“Tôi muốn các con nhớ dữ liệu không bắt đầu từ màn hình.”

Chiều, Bách gửi quy trình chuyển đổi giờ: mỗi trạm dùng giờ đồng hồ cơ của trường làm mốc, ghi cả giờ địa phương và độ lệch. Miên lập bảng chuyển bằng các đèn màu. Em gắn một viên pin dự phòng vào đồng hồ, rồi chấm từng nhịp rung với thời gian trên radio mặt đất.

“Em không nghe radio,” Lam nói.

Miên đặt một cuộn dây cảm ứng gần loa. Dòng điện làm hộp rung. Em không cần nghe nội dung để nhận nhịp thời gian.

“Em sẽ sửa hệ thống giờ?”

Miên viết: “Em sẽ để mọi người biết giờ lệch.”

Lam gật. Không che sai số, chỉ đưa nó vào cách dùng.

Đến 17 giờ, máy phát điện của trạm yếu. Năm trạm không gửi đồng thời. Lam muốn tắt một số để giữ nguồn cho trạm y tế. Kha phản đối vì nếu tắt, mất chuỗi đúng lúc không có vệ tinh.

“Giữ tất cả thì không đủ pin,” anh nói.

“Ưu tiên trạm có người,” Hạ nói. “Dữ liệu không đi trước nước uống.”

Lam chia lịch: Rau, Chòi, Vòm gửi xen kẽ; Mái và Xưởng gửi sau; Trạm y tế giữ nguồn. Kha sửa chu kỳ. Cư mang pin tàu tới, nhưng loại đầu nối khác.

Miên tháo một sạc cũ, hàn chuyển. Cô bé không hỏi có được phép không, nhưng Lam bắt em ghi rủi ro: nối sai có thể cháy cầu chì.

“Nếu cháy?” Miên viết.

“Dừng, thay cầu chì, ghi.”

“Không mắng?”

“Mắng không sửa được dây.”

Miên đưa tay ra, yêu cầu Cư giữ đèn. Anh làm theo, không hỏi em có chắc.

Mặt trời lặn, Vườn Sao chỉ còn những chấm dữ liệu mặt đất. Không có hạt bay mới, bầu trời trống hơn. Trẻ con hỏi vì sao không thấy sao trên màn hình.

Thảo Nhi đưa chúng ra sân. Sao thật hiện dần trong khoảng tối giữa mây. Bà bảo đừng gọi một ngôi sao là trạm cảm biến. Nó không đo độ mặn, nhưng giúp chỉnh hướng.

Lam nhìn chiếc kim trên đồng hồ cơ. Nó lệch với điện thoại 17 giây, giống gói tin ban trưa. Miên ra hiệu 17 nhịp, rồi chỉ lên trời.

“Sao Xám,” em viết.

“Em đặt tên?”

Miên gật. “Màu dữ liệu.”

Không ai biết bão Mặt Trời có hình gì. Nhưng từ đêm đó, Vạn Sương gọi khoảng mất tín hiệu là Sao Xám, không phải để làm nó lãng mạn mà để nhớ rằng sự cố trên trời có thể chạm vào chậu nước dưới đất.

21 giờ, Bách gọi lại. Anh nói trung tâm sẽ tạm dừng phát các dự báo chi tiết, chỉ đưa bản tin vùng rộng. Một số xã đã hỏi có nên di dời sớm do không có ảnh mây.

“Còn chúng tôi?” Lam hỏi.

“Tôi không thể nói.”

“Anh có thể nói chưa biết.”

“Chưa biết.”

“Và cần làm gì?”

“Theo dõi mặt đất, giữ liên lạc.”

Hạ nghe, nói với Lam: “Chúng ta đã làm rồi.”

Một gói tin từ V-19 tới, chậm 29 giây, ghi nhiệt tầng cao giảm, độ mặn không có vì vết rách. Không đủ dự báo, nhưng hướng gió vẫn tây bắc.

Lam đặt gói đó cạnh mẫu bụi và bản đồ. Cô không biết lớp gió có chạm trường hay vòng ra biển.

Cư bước vào, cầm chiếc máy của em trai. “Tàu tôi không ra. Nhưng máy đo ở bờ ghi áp suất giảm.”

“Bao nhiêu?”

“0,7 trong mười phút.”

“Máy cũ có thể sai.”

“Ghi là máy cũ.”

Lam ghi.

Miên đặt một tờ giấy giữa họ. Em vẽ bốn đường: gió tầng cao, gió mặt nước, áp suất bờ, bụi trên mái. Tất cả hướng về trường cũ.

“Có cần cảnh báo?” Cư hỏi.

Lam nhìn quy ước. Nguồn, thời gian, chắc chắn, việc, cách nhận.

“Cảnh báo có điều kiện,” cô nói. “Không sơ tán. Đóng cửa phía biển ở trường và trạm y tế, di chuyển lớp học sáng mai vào phòng trong, không thả thêm hạt.”

Hạ hỏi ai sẽ phát cho người không có điện thoại.

Miên giơ hộp rung. Em và nhóm tình nguyện sẽ đi từng khu.

Lam viết bản tin, đọc công khai, rồi gửi cho Bách. Anh không phê duyệt, chỉ trả lời: “Ghi rõ dữ liệu địa phương, chưa phải cảnh báo quốc gia.”

“Đã ghi.”

Trước khi ngủ, Lam ra mái vòm. V-19 tắt đèn. Trên bầu trời thật, sao vẫn có, dù hệ thống không gọi tên được.

Miên đứng cạnh cô, đặt tay lên lan can. Một rung động rất nhẹ truyền qua kim loại từ hộp thu dưới sân.

Lam hỏi: “Có tín hiệu?”

Miên chỉ về phía biển.

Một dải sáng mỏng hiện trên mái phản xạ Mây Mỏng, rồi vụt tắt.

Không có vệ tinh, không có ảnh mây, không có ai đứng ở trung tâm để nói đó là gì.

Vườn Sao bắt đầu đêm đầu tiên không có người nhìn từ trên cao.

Trong giờ đầu mất vệ tinh, những người trẻ có thói quen mở bản đồ liên tục cứ vuốt màn hình điện thoại rồi dừng lại. Không có chấm vị trí, họ phải hỏi nhau đường về bằng những vật quen thuộc: cây bàng trước trường, cột cờ cạnh đê, mái nhà màu đỏ đã bong sơn. Thảo Nhi nói bản đồ giấy chưa bao giờ biến mất; nó chỉ bị đặt dưới những lớp kính sáng hơn.

Lam chia đội trực thành vòng ba giờ. Mỗi đội phải ghi cả nguồn điện còn lại và trạng thái của người trực. Hạ yêu cầu không để một người thức quá lâu, bởi mệt mỏi cũng tạo ra sai số. Cư đem đèn dầu đến, nhưng Miên nhắc rằng khói có thể ảnh hưởng mẫu bụi. Họ đặt đèn ở ngoài cửa, còn trong phòng dùng pin sạc và đèn đỏ.

Bách gửi hướng dẫn qua kênh vô tuyến. Độ trễ dài, câu chữ bị đứt. Ông nói trung tâm chưa thể phát dự báo mới, nhưng đang kiểm tra ảnh cuối cùng trước khi nhiễu. Lam đọc lại cho mọi người và thêm một câu của riêng Vạn Sương: “Không có ảnh mới không có nghĩa bầu trời đứng yên.”

Trên mái trường, V-19 gửi một chuỗi số lệch thời gian. Miên phát hiện đồng hồ của nó chậm hai mươi bảy giây vì nguồn pin yếu. Nếu sửa thẳng dữ liệu, họ mất dấu trạng thái thật của thiết bị. Em đề nghị ghi hai cột: giờ thiết bị và giờ đối chiếu bằng đồng hồ cơ. Bách nghe qua vô tuyến, im lặng một lúc rồi bảo đó là cách tốt nhất.

Hạ lập danh sách các hộ cần gọi, không chỉ những gia đình từng báo khó thở. Có người sống một mình, người chăm sóc trẻ sơ sinh, người không đọc được tin nhắn, và một ông cụ nghe tiếng loa nhưng không hiểu câu dài. Nhịp Vạn Sương được dùng lần đầu trong tình trạng không có hệ thống trung tâm. Người trực phải giải thích từng nhịp bằng cả tay, đèn và giấy.

Đến gần sáng, không có biến cố lớn. Chính điều đó làm ai cũng mệt hơn, vì họ không biết mình đã chuẩn bị dư hay vừa đủ. Lam ghi vào báo cáo: “Đêm không có vệ tinh cho thấy khả năng tự chủ tối thiểu, không chứng minh hệ thống địa phương có thể thay thế vệ tinh.” Câu ấy không hào hùng. Nhưng nó giữ Vườn Sao khỏi trở thành một câu chuyện dễ bán.

Đã sao chép liên kết chương