Chương 2
Chương 2
Miên sửa bộ thu bằng cách nghe nó qua mặt bàn. Em tháo nắp, đặt một đầu ngón tay lên vỏ nhôm và áp tai vào cổ tay mình, nơi rung động truyền qua xương rõ hơn âm thanh. Lam đứng đối diện, khoanh tay, cố không giành tua vít.
“Không phải nghe,” Lam nói.
Miên viết: “Em không nghe.”
“Ý cô là em không cần giả vờ.”
Miên nhìn cô, rồi viết tiếp: “Em không giả vờ.”
Trong xưởng của An Cư, tiếng máy nén khí bật tắt theo nhịp, mùi dầu máy đọng trong quần áo. Họ đặt bộ thu V-18 trên một chiếc bàn gỗ từng dùng sửa máy phát. Cư đang tháo bộ lọc nhiên liệu, nhưng mắt vẫn hướng về phía Miên.
“Nếu em sửa được thì sửa,” anh nói. “Đừng cần cô Lam nói hộ.”
Miên không thích người lớn nói như bênh vực. Em cúi xuống, dùng kẹp nhấc một sợi dây màu xanh. Dây không đứt, nhưng lớp bọc bị ép dưới ốc. Khi chạm vào, bộ thu phát ra một nhịp rền.
Lam cầm bảng điện tử, mở nhật ký tín hiệu. “V-18 không tắt hẳn. Nó còn gửi gói dữ liệu cuối.”
“Nhưng không có tọa độ,” Cư nói.
“Bởi vì bóng mất nguồn.”
Miên lắc đầu. Em chỉ vào vỏ hộp rồi vẽ một đường thẳng, sau đó một vòng tròn bị cắt. Lam hiểu em đang nói dây nguồn bị chập trước khi bóng xẹp. Không phải gió làm mất liên lạc hoàn toàn; mối nối dưới vỏ có vấn đề.
“Em nghĩ mối nối bị nước muối?” Lam hỏi.
Miên viết: “Nước chưa vào. Có dấu nóng.”
Lam lấy kính phóng đại. Quanh chân tụ điện có một vùng sẫm màu, nhỏ bằng đầu tăm. V-18 không hỏng vì luồng gió lạ. Nó hỏng vì một linh kiện rẻ bị quá nhiệt, nhưng dữ liệu gió trước đó vẫn có thể đúng.
Cư đặt bộ lọc xuống. “Vậy dòng gió tây bắc là thật hay không?”
Lam không trả lời ngay. “Chưa biết.”
“Cô nói câu này giỏi.”
“Vì nó đúng.”
“Câu đúng mà không giúp ai quyết định thì cũng giống câu không nói.”
Hạ bước vào cùng hai cậu bé khiêng thùng nước. Chị đặt thùng xuống, thấy mọi người quanh bộ thu thì hỏi đã có cảnh báo chưa. Lam nói chưa.
“Tốt,” Hạ đáp. “Nhưng tôi cần một thông báo nội bộ cho trạm y tế.”
“Thông báo gì?”
“Có gió mặn tầng thấp thì nhóm hen suyễn cần đóng cửa hướng biển. Tôi không cần mức báo động, chỉ cần theo dõi.”
Lam lấy một tờ biểu mẫu. Hạ điền tên người cần gọi, số nhà và dấu hiệu phải chuyển tới trạm. Chị không ghi “nếu có thể”. Chị ghi thời hạn: trước 5 giờ chiều, nếu chưa có dữ liệu mới thì gọi lại.
“Chị đang làm quy trình riêng?” Lam hỏi.
“Tôi đang làm việc của mình. Trạm y tế không thể chờ kỹ sư gọi tên một đám mây.”
Thảo Nhi mang tới một ống bản đồ bằng nhựa. Bà đặt nó lên bàn, nói bản đồ giấy năm 2019 có ghi các đợt gió muối từ hướng tây bắc, nhưng người vẽ đã chú thích “cục bộ, không duy trì”.
“Hướng tây bắc ở bãi triều không hiếm,” bà nói. “Hiếm là nó xuất hiện trên tầng ba.”
Lam nhìn bà. “Tầng ba của ai?”
“Của khí quyển.”
Cư bật cười, nhưng Thảo Nhi không cười. Bà trải bản đồ. Những đường màu nâu mô tả dải cồn, ruộng muối và mái che phản xạ của chương trình Mây Mỏng. Trên mép đầm, một chú thích ghi “gió đổi hướng sau khi mặt phản xạ vận hành”.
“Bản đồ này cũ,” Lam nói.
“Cũ không có nghĩa sai. Chỉ có nghĩa người ta đã thôi hỏi nó.”
Miên lấy bảng tín hiệu, gõ hai ngón lên bàn: nhịp dài, ba nhịp ngắn, nhịp dài. Em đang mô phỏng gói dữ liệu V-18 trước khi rơi.
Lam mở bản ghi thô. Gói tin có bốn trục: áp suất, nhiệt độ, độ ẩm, độ mặn. Trục độ mặn tăng theo nhịp lặp, không liên tục. Nếu là lỗi cảm biến, nhịp tăng sẽ theo nguồn điện. Nếu là mưa muối, nó có thể theo lớp gió.
“Miên, em có thể lọc nhiễu nguồn không?”
Em gật, nhưng chỉ vào Cư.
“Nguồn điện của xưởng?” Cư hỏi.
Miên viết: “Máy nén chạy thì nhiễu.”
Cư hiểu. Anh tắt máy nén. Xưởng bỗng yên, chỉ còn tiếng mưa khô gõ trên mái tôn. Bộ thu phát ra một nhịp đều hơn. Miên dùng một dây nối trực tiếp vào pin, bỏ qua bộ ổn áp.
Trên màn hình, một đường biểu đồ hiện ra. Không còn đỉnh giả do máy nén. Nhưng dòng gió tây bắc vẫn ở đó, kéo dài mười một phút trước khi bóng mất nguồn.
Lam thấy cổ họng khô. Một chuỗi mười một phút chưa đủ cảnh báo, nhưng quá lâu để gọi là một đốm lỗi.
“Ghi cả hai,” cô nói. “Một bản đã lọc, một bản gốc.”
Miên ngẩng lên, viết: “Cô sẽ giữ bản gốc?”
“Ừ.”
“Lần này?”
Lam nhìn em. Miên không hỏi vô cớ. Sáu năm trước, Lam đã xóa chuỗi đo lỗi sau khi xác định cảm biến bị bọc ướt. Cô giữ một ảnh chụp màn hình, nhưng bản thô không còn. Sau đó, khi người dân hỏi tại sao trạm sai, cô chỉ có thể đưa kết luận đã làm sạch.
“Lần này giữ,” Lam nói. “Dù nó làm chúng ta xấu đi.”
Cư lấy chiếc điện thoại cũ, đặt lên bàn. “Tàu tôi có camera hướng đầm. Không có cảm biến, nhưng có video gió. Tôi cho cô xem nếu cô ghi đúng nó là video của tôi, không biến thành dữ liệu chuẩn.”
Anh mở đoạn quay lúc 3 giờ 22. Mặt đầm phẳng, nhưng các phao nuôi sò kéo ngược về phía đất. Rong nổi tụ thành dải mỏng, không theo gió mặt đất.
“Gió tầng trên đã đổi,” Lam nói.
“Hoặc nước đổi.”
“Cả hai đều cần đo.”
“Cô muốn thả thêm?”
“Sáu hạt.”
Cư lắc đầu. “Chưa sửa được V-18.”
“Sửa xong cũng không đủ sáu.”
“Vật liệu ở đâu?”
“Kho trạm.”
“Kho trạm chỉ còn bốn vỏ bóng.”
Kha bước vào, mang theo bó tre và một thùng chai nhựa. “Có thêm hai vỏ từ nhà máy nước. Nhưng màng mỏng không cùng loại.”
Lam kiểm tra nhãn. Vật liệu mới dày hơn, nặng hơn, không chắc lên được tầng ba.
“Dùng làm trạm thấp,” Miên viết.
Lam nhìn em. “Em muốn trồng sáu hạt nhưng hai hạt không lên cao.”
Miên vẽ một tam giác: ba trạm thấp, ba trạm cao, rồi nối các đường. “So sánh.”
Cư cầm bảng, hiểu trước Lam. “Em ấy muốn lấy chênh lệch giữa tầng thấp và tầng cao.”
“Không thể so trực tiếp nếu cảm biến khác.”
“Có thể nếu hiệu chuẩn cùng một giờ.”
Lam nhìn Miên, rồi nhìn Cư. Họ không cần cùng loại thiết bị để đặt câu hỏi khác nhau. Mạng sao không phải một bộ máy hoàn hảo, mà là nhiều phép đo nhìn vào cùng một bầu trời từ các vị trí khác.
Thảo Nhi lục trong ống bản đồ, lấy ra sáu thẻ tre đánh số. Mỗi thẻ ghi tên một mái nhà tự nguyện nhận trạm.
“Nhà bà Mùi, trường cũ, xưởng Cư, trạm y tế, mái vòm và chòi canh muối,” bà đọc. “Đừng bỏ nhà bà Mùi vì hạt sao rơi vào rau nhà bà.”
Lam bật cười. “Bà Mùi sẽ đòi tên nó.”
“Bà ấy đã đặt tên là Sao Rụng.”
Buổi chiều, họ sửa V-18. Miên thay tụ điện, Kha buộc lại khung, Lam ghi từng bước vào nhật ký. Khi họ bật nguồn, hạt sao không bay, nhưng gửi được dữ liệu cuối đã lưu trong bộ nhớ. Độ mặn tăng trước áp suất giảm mười ba phút.
“Nếu thứ tự này lặp,” Lam nói, “gió mặn đi trước một biến động áp suất.”
“Vậy chúng ta sẽ dự báo?” Cư hỏi.
“Chúng ta sẽ nói nó có thể là dấu hiệu.”
“Dài dòng.”
“Đúng.”
Hạ viết thông báo nội bộ: “Theo dõi khả năng tăng hạt muối trong gió tầng thấp; đóng cửa phía biển khi có mùi kim loại hoặc bụi trắng; chưa phải cảnh báo sơ tán.”
Lam đọc, sửa “hạt muối” thành “bụi và hơi muối”, vì chưa biết dạng nào. Hạ gạch dưới câu “chưa phải cảnh báo” để không ai dùng nó làm lời bảo đảm.
Lúc mặt trời nghiêng, sáu trạm được chia cho sáu mái. Miên phụ trách trạm y tế, nơi chị Hạ muốn thử bảng tín hiệu xúc giác. Cư giữ trạm ở xưởng, chỉ vì anh không muốn người khác cầm tua vít sai. Kha mang hai hạt thấp ra chòi muối.
Trước khi thả, Lam nói với bọn trẻ: “Nếu dữ liệu trái nhau, không ai được chọn bản mình thích. Ghi cả.”
Tí hỏi: “Nếu hai bản cùng sai?”
“Thì chúng ta có thêm một việc phải đo.”
Hạt sao V-19 bay lên lúc 4 giờ 07. V-20 bay sau nó bảy phút. Hai đốm đèn nhỏ nhấp nháy trong trời sáng, không ai gọi chúng là sao vì mắt thường khó thấy.
Màn hình trạm nhận tín hiệu. Tầng thấp: gió đông nam. Tầng cao: hướng tây bắc. Độ mặn ở trạm chòi muối tăng trước trạm trường cũ.
Lam chưa kịp ghi chú thì một gói tin lạ xuất hiện, không có mã hạt sao. Nó chỉ gồm năm nhịp áp suất và một tọa độ cách bờ ba cây số.
Miên nhìn màn hình, rồi nhìn Lam. Em chạm tay vào mặt bàn. Rung động truyền thành một nhịp dài, hai nhịp ngắn.
“Có ai khác đang đo,” Hạ nói.
Lam phóng tọa độ. Đó là vùng ngoài đầm nơi dự án Mây Mỏng đặt các mái phản xạ nổi. Trên hồ sơ quốc gia, khu đó không có trạm cộng đồng nào.
Cư cầm điện thoại, mở camera hướng biển. Một dải sáng bạc nằm trên mặt nước như một tấm gương nghiêng.
“Tôi biết họ lắp thứ đó,” anh nói. “Tôi không biết nó cũng đang trồng sao.”
Không ai cười. Gói tin lạ gửi thêm một lần, rồi mất.
Lam mở sổ, ghi tọa độ chưa xác nhận. Cô không phát cảnh báo. Nhưng lần này, cô không xóa nó.
Miên ở lại phòng thiết bị đến khi các bóng đèn ngoài sân tắt bớt. Em tháo bộ vỏ V-18, đặt từng con ốc lên một miếng bìa có vẽ hình tròn. Một con ốc lệch ren, hai chân cảm biến bị phủ muối, còn viên pin dự phòng đã bị ai đó cắm ngược cực. Em không than phiền. Với Miên, mỗi lỗi đều là một cách thiết bị nói rằng nó đã từng được chạm vào bởi một người vội.
Lam quay lại đưa cho em chiếc khăn khô. “Em không cần sửa hết trong đêm.”
Miên viết: “Gió không chờ sáng.”
“Nhưng người sửa gió thì cần ngủ.”
Em suy nghĩ, rồi đặt khăn lên vai Lam. Sau đó cả hai chia việc. Lam lập bảng những gì đã biết và chưa biết. Miên đo lại pin, hàn chân cảm biến, dán một miếng màu vàng vào phần có thể gây sai số. Cư gửi đoạn video từ đầm, trong đó một lớp gợn nước chạy ngược hướng với khói bếp trên bờ.
Đến gần nửa đêm, V-18 gửi một gói tin mới. Hướng gió không đổi, nhưng độ mặn giảm khi hạt lên cao hơn. Lam không còn nhìn nó như một cảnh báo duy nhất. Cô nhìn nó như một lát cắt mỏng qua một căn phòng lớn, nơi nhiều tầng không khí đang chuyển động cùng lúc.
Trước khi khóa cửa, Miên đặt vào hộp lưu trữ một mảnh giấy: “Nếu không biết gói tin có thật, hãy giữ cả dấu hỏi.” Lam ký tên bên dưới. Sáng hôm sau, họ sẽ cần thêm trạm, thêm người và có thể thêm một cuộc tranh luận. Nhưng dữ liệu đã không còn nằm trong trí nhớ của riêng Lam.