Căn Phòng 404 Nhìn Ra Biển
8 phút đọc

Chương 12

Chương 12

Vũ phát hiện cửa kho bị khóa từ bên ngoài trong lúc người bên trong còn ở đó, một kết luận anh đưa ra sau khi phân tích kỹ đường trầy trên khung cửa thép bằng kính lúp cầm tay và đèn chiếu góc thấp để làm nổi bật các vết xước nhỏ nhất. Dấu khóa trên khung cửa cho thấy then sắt đã bị trượt vào vị trí đóng, không phải sập do áp lực đất đá từ vụ sạt lở như giả thuyết ban đầu của một số thành viên nhóm.

“Nếu là do sạt lở,” Vũ giải thích, chỉ vào từng chi tiết trên bức ảnh phóng to anh chiếu lên màn hình cho cả nhóm xem, “vết trầy sẽ có hướng lực bất quy tắc, phân tán theo nhiều chiều. Nhưng đây là một đường trầy thẳng, đơn hướng, đặc trưng của việc then cửa được đẩy có chủ đích bằng tay hoặc bằng công cụ.”

Ông Tư, khi được hỏi lại, nói sau vụ sạt lở, mọi người tìm thấy cửa khóa nhưng không ai nhận trách nhiệm biết ai đã khóa nó. Bà Hạnh, tham gia buổi họp qua cuộc gọi video vì đang ở thành phố xử lý công việc ngân hàng, nhớ cha bà từng ra lệnh đóng toàn bộ tầng bốn ngay sau khi có báo cáo về vết nứt nền, một mệnh lệnh chung chung không nêu rõ chi tiết thực hiện.

Đạt hỏi nếu có người sống sót trong kho, họ đã đi bằng lối nào khi cửa chính bị khóa. Vũ chỉ vào khe thông gió hướng biển trên bản vẽ kết cấu, đo lại kích thước thực tế bằng thước dây ngay tại hiện trường: đủ rộng để thả dây cứu hộ xuống hoặc kéo vật nhẹ lên, nhưng không đủ cho một người trưởng thành chui qua trong điều kiện bình thường.

“Vậy nếu cửa bị khóa và khe thông gió quá nhỏ,” Nhi nói, giọng cô căng thẳng, “thì người trong phòng chỉ có thể ra ngoài nếu ai đó mở cửa từ bên ngoài, hoặc phá được cửa từ bên trong.”

Nhi xem lại băng ghi âm lần nữa cùng cả nhóm, lần này với bản đã qua xử lý lọc âm từ phòng thí nghiệm. Sau tiếng kim loại va mạnh, có ba tiếng gõ đều, cách nhau một khoảng thời gian bằng nhau chính xác tới mức khó có thể là ngẫu nhiên. Cô không biết đó là tín hiệu cứu hộ theo mã chuẩn hay chỉ là tiếng kết cấu công trình đang chịu áp lực, và cô ghi rõ cả hai khả năng vào hồ sơ, không loại trừ cái nào trước khi có xác nhận chuyên môn.

Chuyên gia âm thanh pháp y, người nhóm đã liên hệ theo giới thiệu của kỹ thuật viên phòng thu trước đó, gửi kết quả phân tích qua email kèm báo cáo chi tiết. Sau khi lọc tạp âm bằng phần mềm chuyên dụng, ông nhận ra tiếng còi tàu cứu hộ vang lên rất xa ở hậu cảnh, ngay trước khi băng mất tín hiệu hoàn toàn. Một phút sau tiếng còi đó, băng dừng lại đột ngột, không có dấu hiệu bị tắt chủ động mà giống như nguồn ghi âm đã ngừng hoạt động vì lý do vật lý, có thể do thiết bị bị hư hỏng hoặc mất nguồn điện.

Bà Hạnh, sau cuộc gọi video, gửi qua email một bộ hồ sơ bảo hiểm mà bà đã tìm thấy trong kho lưu trữ gia đình như đã hứa. Có một khoản chi được ghi là “thiết bị cứu hộ thất lạc” và một khoản khác riêng biệt cho “cải tạo vách tầng bốn”, cả hai đều được duyệt trong vòng hai tháng sau vụ sạt lở. Không có tên nạn nhân nào được nhắc tới trong toàn bộ hồ sơ, chỉ có những khoản mục tài chính trừu tượng, phi cá nhân.

Nhi hỏi bà, qua cuộc gọi tiếp theo được sắp xếp riêng ngoài buổi họp nhóm chính thức, có từng hỏi cha bà về những khoản chi này không, dù bà đã thừa nhận biết về chúng từ trước. Bà nói cha mất trước khi bà kịp hỏi kỹ, đột ngột vì một cơn đau tim vài năm sau vụ sạt lở, và bà chọn dùng khoản tiền bảo hiểm còn lại để giữ khách sạn khỏi bị ngân hàng thu hồi, thay vì điều tra sâu hơn về nguồn gốc và mục đích thực sự của từng khoản chi.

“Tôi biết điều đó nghe có vẻ như tôi đã chọn tiền hơn sự thật,” bà nói, giọng bà run nhẹ qua điện thoại. “Nhưng lúc đó, tôi hai mươi hai tuổi, một mình gánh vác một khách sạn đang nợ nần và một người cha vừa qua đời để lại quá nhiều câu hỏi chưa có lời giải.”

Đạt không dễ dàng chấp nhận lời giải thích đó. Anh nói khoản tiền bảo hiểm liên quan tới thiết bị cứu hộ thất lạc, xét theo logic thông thường, thuộc về trách nhiệm với gia đình những công nhân đã mất tích, không nên được dùng để cứu vãn tình hình tài chính riêng của khách sạn. Bà Hạnh đáp lại, giọng bà có phần gay gắt hơn, rằng nếu khách sạn sụp đổ hoàn toàn vào thời điểm đó, sẽ không còn ai, kể cả gia đình các nạn nhân, nhận được bất kỳ khoản bồi thường nào từ một doanh nghiệp đã phá sản.

Nhi không đứng về phía nào trong cuộc tranh luận đang dần căng thẳng này. Cô đề nghị đưa toàn bộ khoản chi cho luật sư độc lập và đại diện thân nhân đối chiếu chi tiết, xác định rõ ràng khoản nào hợp lý về mặt pháp lý, khoản nào cần được xem xét lại, thay vì để cảm xúc của các bên liên quan quyết định cách nhìn nhận vấn đề tài chính phức tạp này.

Vũ, trong lúc mọi người tranh luận, tiếp tục công việc đo đạc của mình tại hiện trường, cầm thước đánh dấu chính xác vị trí then cửa trên khung thép. Một đường trầy hướng ra ngoài, ngược chiều với đường trầy đóng cửa mà anh đã phát hiện trước đó, cho thấy sau khi bị khóa, ai đó bên trong đã cố gắng mở nó từ phía trong, tạo ra một lực đủ mạnh để để lại dấu vết rõ ràng trên kim loại.

Nhi bước tới, chạm nhẹ vào vết trầy bằng đầu ngón tay đeo găng, rồi rút tay lại ngay lập tức, một phản xạ bất chợt cô không kịp kiểm soát. Cô biết mình đang đứng trước một dấu vết thật, một bằng chứng vật lý không thể chối cãi về nỗ lực thoát ra của ai đó trong đêm hôm ấy, không phải một hình ảnh do ký ức hay cảm xúc của cô tự dựng lên trong tâm trí.

Vũ đo lại độ sâu và góc nghiêng của vết trầy hướng ra ngoài, so sánh với lực cần thiết để tạo ra dấu vết tương tự trên cùng loại kim loại, dựa trên bảng tra cứu độ cứng vật liệu anh mang theo trong bộ hồ sơ kỹ thuật. “Lực này tương đương với một người trưởng thành đẩy hết sức trong tình trạng hoảng loạn,” anh nói, ghi số liệu vào biên bản. “Không phải một cú va chạm ngẫu nhiên.”

Nhi đứng lặng nhìn khung cửa, cố hình dung khoảnh khắc đó — bóng tối, tiếng nước dâng, và một người bên trong đang cố sức đẩy cánh cửa đã bị khóa chặt từ phía ngoài. Cô không biết người đó là mẹ mình hay là một trong những công nhân được cứu, nhưng dấu vết ấy giờ đây mang một trọng lượng cảm xúc mà không con số kỹ thuật nào có thể diễn tả hết.

Đạt, đứng cạnh cô, cũng im lặng nhìn vào vết trầy một lúc lâu trước khi lên tiếng, giọng anh trầm hẳn xuống. “Nếu là Sơn,” anh nói, “tôi muốn biết, ít nhất, rằng nó không phải là nỗi sợ hãi cuối cùng cậu ấy trải qua một mình.”

Nhi đặt tay lên vai Đạt, không nói gì thêm, để sự im lặng giữa họ mang ý nghĩa của riêng nó. Cả nhóm đứng lặng trong căn phòng nhỏ một lúc lâu, ánh sáng chiều muộn từ khe kính chiếu lên khung cửa thép, làm nổi bật rõ hơn từng đường trầy đã được đánh dấu bằng phấn trắng để tiện chụp ảnh lưu trữ.

Ông Tư, người vẫn đứng ngoài cửa suốt buổi khảo sát, cuối cùng cũng bước vào, nhìn kỹ vào vết trầy dưới sự chỉ dẫn của Vũ. Ông đứng lặng rất lâu, hai tay run nhẹ, rồi nói, giọng ông nghẹn lại: “Tôi nhớ ra rồi. Đêm đó, khi tôi mang cáng vào, cửa đã mở sẵn. Tôi không hề nghĩ tới việc ai đó đã phải tự mở nó từ bên trong, dưới áp lực như vậy.”

“Chú nhớ được thời điểm chính xác không?” Nhi hỏi, giọng cô nhẹ nhàng nhưng khẩn thiết.

“Không chính xác,” ông đáp, lắc đầu. “Nhưng tôi nhớ trời vẫn còn tối lắm, và tôi phải bước qua nước đọng trên sàn hành lang mới tới được cửa.”

Nhi ghi lại chi tiết đó vào biên bản, thêm một mốc thời gian ước lượng mới vào bảng tổng hợp đang treo trên tường văn phòng công trường, dù chỉ là một khoảng thời gian mơ hồ, nó vẫn góp thêm một mảnh nhỏ vào bức tranh toàn cảnh của đêm sạt lở đang dần được ghép lại đầy đủ hơn từng ngày.

Trước khi rời hiện trường, Vũ niêm phong khu vực khung cửa bằng băng cảnh báo, đảm bảo không ai vô tình làm xáo trộn dấu vết trước khi có thể mời chuyên gia giám định độc lập tới xác nhận lần cuối theo đúng quy trình pháp lý mà luật sư của Đạt đã đề xuất trước đó.

“Bước tiếp theo là gì?” Đạt hỏi, khi cả nhóm cùng bước ra khỏi hành lang tầng bốn, ánh nắng chiều muộn hắt qua ô cửa sổ cuối hành lang phía khách sạn.

“Mời chuyên gia giám định kết cấu và dấu vết cơ học độc lập,” Nhi đáp, kiểm tra lại danh sách công việc trên điện thoại. “Song song với việc chờ kết quả đối chiếu hồ sơ bảo hiểm từ luật sư. Chúng ta cần cả hai mảnh ghép đó trước khi có thể trình bày một báo cáo đủ vững chắc.”

Ông Tư đi cuối cùng, dừng lại một lúc trước cửa phòng 404, nhìn vào bên trong lần nữa trước khi Vũ khóa cửa tạm bằng ổ khóa mới thay cho việc bảo vệ hiện trường. “Tôi ước gì mình đã nói ra sớm hơn,” ông nói, không nhìn ai cụ thể. “Nhưng tôi mừng vì cuối cùng cũng nói ra.”

Không ai đáp lại ngay. Cả nhóm lặng lẽ rời khỏi tầng bốn, để lại căn phòng nhỏ phía sau, giờ đây đã được niêm phong cẩn thận, chờ đợi bước tiếp theo trong hành trình dần hé lộ toàn bộ sự thật của đêm sạt lở mười tám năm trước.

Đã sao chép liên kết chương