Chợ Nổi Ngày Không Nước
8 phút đọc

Chương 13

Cánh cửa có khóa niêm

Cánh cửa sắt dẫn vào bể lắng phụ được niêm phong bằng hai lớp dây, nhưng ổ khóa mới hơn cả nền bê tông.

An đứng ngoài khu dân cư tạm, nhìn bảng cấm. Bên trong là bãi đất thấp, cỏ mọc lưa thưa và một bức tường gạch chạy theo kè cũ. Khải nói bể lắng nằm dưới đó. Nước trong nhánh nam vẫn đi qua, nhưng không ai được kiểm tra cửa xả.

Duy đến cùng cán bộ thị trấn. Anh cầm văn bản yêu cầu mọi người rời khu vực.

“Khu này nguy hiểm,” anh nói.

“Nguy hiểm vì kết cấu hay vì hồ sơ?” An hỏi.

“Cả hai.”

Khải chỉ vào lớp niêm phong. “Dây này của nhà máy?”

“Đơn vị vận hành.”

“Nhà máy là đơn vị vận hành?”

Duy không trả lời trực tiếp. Anh nói công trình được bàn giao theo hợp đồng, trách nhiệm hiện do nhiều bên.

“Lại không có chủ thể,” An nói.

Cán bộ thị trấn yêu cầu cô tắt máy. An cho xem thẻ nhà báo, rồi đồng ý quay từ ngoài ranh. Tí đứng trên một mái tôn cách đó xa, dùng ống kính cũ chụp xuyên qua hàng rào.

Bên trong bể, nước không chảy theo hướng ra sông. Một vệt bùn đi ngược, chảy về phía khu dân cư. Mùi hôi nặng hơn mùi dầu.

“Có người mở cửa trong này,” Khải nói.

“Anh thấy từ đâu?”

“Bùn mới trên bản lề.”

Duy tiến lại. “Anh không được suy đoán.”

Khải quay sang. “Tôi đang nhìn bản lề.”

An hỏi cán bộ có biên bản niêm phong trước không. Người này lục hồ sơ, nói niêm phong được lập sau khi dân phản ánh nước đen. Người ký gồm nhà máy, hợp tác xã và phòng kinh tế. Thời điểm niêm phong là 3 giờ 05, gần một giờ sau ảnh của Tí.

“Tức là cửa đã mở trước khi niêm phong,” An nói.

Duy lấy văn bản từ tay cán bộ. “Chưa biết ai mở.”

“Nhưng biết có mở.”

“Cũng chưa chắc.”

Khải dùng đèn chiếu vào rãnh dưới cửa. Một mảnh vải màu bạc mắc ở khe, giống áo bảo hộ. Tí gửi ảnh chụp cận cảnh. Trên vải có chữ cái V.

Duy nhận ra. “Vinh.”

“Anh xác nhận?” An hỏi.

“Tôi xác nhận chữ này có thể là ký hiệu đồng phục.”

“Vinh có quyền vào bể?”

“Tôi phải kiểm tra.”

“Anh đã nói câu đó quá nhiều.”

Duy nhìn An. “Em muốn tôi làm gì? Gọi Vinh đến thú tội giữa bãi bùn?”

“Tôi muốn anh thừa nhận nhà máy không kiểm soát được công trình.”

Anh im.

Bà Sáu đến, mang biên bản hợp tác xã. Bà nói người dân không thể bị cấm tiếp cận mãi vì bể nằm dưới đất công. Duy đáp nếu có người ngã, ai bồi thường. Bà Sáu hỏi nếu bể tràn vào khu dân cư, ai bồi thường. Không ai trả lời ngay.

Một bà mẹ bế con đứng sau dây. Nhà bà ở sát bãi đất. Bà nói đêm qua con ho vì mùi kim loại. Cán bộ ghi tên, nhưng bảo cần xét nghiệm.

An muốn quay mặt bà, nhưng bà lắc đầu.

“Tôi không cần lên báo. Tôi cần biết mình phải dọn đi hay không.”

An hạ máy.

Chiều, Duy gọi riêng cho cô. Anh nói Vinh là nhân viên kỹ thuật thuê ngoài, không thuộc biên chế nhà máy. Vinh từng làm trạm bơm, nhận việc bảo dưỡng van. Nhà máy chỉ thuê theo gói.

“Anh ta có thể vào bể?” An hỏi.

“Theo lịch bảo trì.”

“Lịch nào?”

Duy đưa file, nhưng phần giờ vào bị bôi đen vì “thông tin an ninh”.

An nhìn anh. “Anh đang cho tôi bản không thể kiểm tra.”

“Tôi cho em phần có thể cho.”

“Đó là vấn đề.”

Duy nói anh cũng không được xem toàn bộ lịch. Hợp đồng thuê ngoài nằm ở pháp chế, còn bộ phận đối ngoại chỉ nhận bản tóm tắt.

“Anh không thấy mình đang làm đúng điều tôi nói về công ty sao?”

“Tôi thấy.”

“Vậy sao vẫn ở đó?”

“Vì nếu tôi đi, họ sẽ đưa người không hỏi gì vào vị trí này.”

An không biết đó là lý do hay lời biện hộ.

Tí phát hiện một vết sơn vàng dưới cửa bể, trùng màu với cọc M-07. Cậu dùng giấy can chà lại hình, thấy một mũi tên chỉ xuống. Dưới mũi tên có số 17.

“17 là ngày hay cửa?” An hỏi.

Khải đáp: “Trong trạm bơm, M-17 là cửa xả bùn.”

“Cửa xả bùn nối với M-07?”

“Không theo bản đồ công khai.”

Họ không thể mở cửa niêm phong, nhưng Khải vẽ lại vị trí hai mã trên nền đất. Mũi tên M-17 nằm sau bức tường, hướng về nhánh nam.

Đêm ấy, trời không mưa nhưng mực bùn trong bãi dâng thêm một gang tay.

Sáng hôm sau, tấm niêm phong trên cửa có một vết cắt mới.

Không ai nhận đã chạm vào.

An không cho ai tháo dây niêm. Cô gọi cán bộ lập biên bản mới, chụp cả vết cắt và hướng sợi dây. Vết cắt sạch, không giống dây bị mưa mục. Người cắt dùng kìm nhỏ, để lại hai vết răng.

Vinh đứng phía sau, nói chiếc kìm của đội bảo trì có đúng hai răng như vậy. Khải quay sang hỏi Vinh có giao kìm cho ai không.

“Dụng cụ dùng chung.”

“Có sổ?”

“Có.”

“Sổ ở đâu?”

Vinh im.

Cán bộ yêu cầu nhà máy niêm phong toàn bộ dụng cụ liên quan. Duy ký yêu cầu, dù đại diện nhà máy nói chưa có chứng cứ kìm thuộc ai. An đồng ý với điều đó, nhưng cho rằng kiểm tra dụng cụ là việc cần làm.

Họ đưa dây cắt đến phòng kỹ thuật để xem dấu. Không thể xác định người, nhưng xác nhận vết cắt xảy ra sau khi niêm phong. Một việc nhỏ, nhưng nó làm yếu câu nói “không ai chạm”.

Bên trong bể, mực bùn cao thêm. Khải nghe tiếng nước đập vào tường. Anh nói nếu cửa phụ bị khóa, áp lực sẽ tìm đường nứt. Duy xin mở khu vực để xả an toàn. Bà Sáu yêu cầu mọi thao tác phải quay và có người dân chứng kiến.

“Nếu không mở, bể có thể vỡ,” Duy nói.

“Nếu mở, bùn có thể đi vào chợ,” Khải đáp.

“Vậy chọn cái nào?”

“Không chọn trong bóng tối.”

Họ đặt máy quay ở hai góc, dùng dây đo áp lực và gọi nhóm sinh viên. Cửa được mở từng phần, không tháo niêm chính. Nước thoát ra màu nâu, nhưng không có bọt trắng. Mẫu được lấy ngay.

Một nhân viên nhà máy nói dòng này chỉ là nước mưa. Khải chỉ vào vệt bùn trên tường, cho thấy nước đã dâng trước khi mưa bắt đầu.

Duy không cãi.

An hỏi Vinh có biết ai mở cửa trước khi niêm phong không. Vinh nói anh đến sau, nhưng thấy nền đã ướt. An hỏi tại sao anh không ghi.

“Tôi nghĩ người khác đã ghi.”

“Ai?”

“Không biết.”

An ghi câu đó. Khải nhìn cô, lần này không phản đối.

Bà Sáu gọi các hộ khu dân cư đến xem từ ngoài hàng rào. Một bà mẹ nói con bà ho lúc cửa mở. Cán bộ khuyên mọi người đeo khẩu trang, nhưng không có đủ.

Nhà máy đưa khẩu trang và nước. Bà Sáu nhận, ghi số lượng vào biên bản. Không ai gọi đó là mua im lặng, nhưng mọi thứ được ghi để sau này không ai phải đoán.

Tí phát hiện dưới chân cửa có một nhãn vàng cũ. Trên nhãn ghi M-17, ngày bảo trì và tên người kiểm tra: Vinh. Ngày kiểm tra nằm trước ngày thẻ của anh hết hạn.

“Anh kiểm tra cửa này?” An hỏi.

“Có.”

“Cửa có hoạt động?”

“Có.”

“Anh ghi gì?”

“Rò gioăng.”

“Anh báo ai?”

“Trưởng đội.”

“Có sửa không?”

“Thay gioăng.”

“Bằng tiền nào?”

Vinh nhìn Duy. Duy nói chi phí bảo trì do nhà máy trả.

An hỏi hồ sơ thay gioăng ở đâu. Duy nói phải tìm.

Vinh tháo mũ, nói: “Tôi có bản chụp.”

Anh đưa một tờ giấy nhăn. Trên đó ghi thay gioăng M-17, nhưng không ghi mã vật tư. Chữ ký người duyệt là một ký hiệu không tên.

“Ai dùng ký hiệu này?” An hỏi.

Vinh đáp: “Phòng kỹ thuật.”

“Phòng kỹ thuật có bao nhiêu người?”

“Bốn.”

“Tên?”

“Tôi không muốn kéo họ vào khi chưa có bằng chứng.”

An nhìn anh. “Nhưng anh vừa đưa bằng chứng cho thấy có người làm việc.”

Vinh cúi đầu.

Đêm, mực bùn trong bể hạ một chút. Cánh cửa vẫn khóa lại, nhưng trên mặt ngoài xuất hiện một dòng phấn:

“M-17 chưa từng ngừng.”

Sáng hôm sau, nhà máy ra thông cáo nói dòng phấn không có giá trị. An chụp lại trước khi mưa xóa.
An yêu cầu ghi rõ từng lần mở cửa, kể cả lần mở khẩn cấp. Cán bộ đồng ý, nói nếu không ghi thì sau này mọi người sẽ chỉ nhớ rằng cửa đã mở chứ không nhớ vì sao.

Duy lấy một quyển sổ trắng, đặt ở ngoài hàng rào. Người vào khu bể phải ghi tên, giờ và người đi cùng. Vinh là người đầu tiên ký.

“Anh không sợ chữ mình lại bị dùng?” An hỏi.

“Sợ. Nhưng không ký còn dễ bị dùng hơn.”

Nhóm kỹ thuật phát hiện gioăng M-17 đã bị thay bằng loại không đúng kích thước. Nó kín khi áp thấp nhưng rò khi áp cao. Duy nói nhà máy mua theo lô, không biết ai chọn. Khải chỉ ra mã vật tư trên giấy không trùng mã gioăng.

“Một con gioăng cũng có đường đi riêng,” Tí nói.

An ghi câu đó.

Người dân khu thấp yêu cầu đặt cảm biến mùi và mực nước. Nhà máy đồng ý lắp, nhưng hợp tác xã giữ quyền xem dữ liệu. Bà Sáu hỏi nếu cảm biến báo bất thường ngoài giờ, ai được gọi. Cán bộ lập danh sách ba số điện thoại, không dùng số tổng đài.

Vinh kể anh từng báo gioăng sai nhưng bị bảo thay tạm vì ngân sách đang chờ. Anh không có email, chỉ có lời nói với trưởng đội. An không dùng như bằng chứng độc lập, nhưng đưa vào phần lời khai cần đối chiếu.

Đêm đó, người nào đó viết lên mặt ngoài cửa:

“M-17 chưa từng ngừng.”

Bà Sáu tự tay lau dòng phấn, rồi dừng lại. Cô chụp trước khi xóa.

“Không phải vì câu này đúng,” bà nói. “Vì nó đã xuất hiện.”

Đã sao chép liên kết chương