Chợ Nổi Ngày Không Nước
8 phút đọc

Chương 14

Người gửi dữ liệu

Chiếc USB nằm trong hộp cháo mẹ An mang đến tòa soạn.

Mẹ nói có một người mặc áo mưa đặt hộp lên thuyền lúc rạng sáng, không nói tên. An mở nắp hộp, thấy USB được bọc trong túi nylon và một mảnh giấy:

“Dữ liệu không đủ để cứu ai, nhưng đủ để biết giờ.”

Tòa soạn không có máy tính an toàn. An gọi biên tập viên, ngắt mạng, dùng máy cũ chỉ để sao chép. File trong USB gồm nhật ký bảo trì, bảng lưu lượng, lịch xe và mười hai video camera.

Video quay bể lắng phụ từ góc xa. Vinh xuất hiện nhiều lần, luôn vào sau 2 giờ, mặc áo bảo hộ. Có một lần Duy đi cùng. Một lần khác có người của hợp tác xã.

“Có tên file không?” biên tập viên hỏi.

“Có. Nhưng một số file bị đổi tên.”

Khải nhìn danh sách. “Tên cũ của file vận hành thường có mã cửa. Người đổi tên đã xóa mã.”

An mở bảng lưu lượng. Những ngày chợ vắng, nhánh nam tăng; những ngày mực nước thấp, nhà máy giảm công suất trên báo cáo nhưng tăng ở nhật ký nội bộ. Dữ liệu cho thấy có một khoảng chênh lệch đều đặn.

“Ai gửi?” An hỏi mẹ.

Mẹ lắc đầu. “Người đó nói mẹ đừng hỏi. Họ sợ.”

Khải nói người gửi có thể là Vinh. Duy phản đối qua điện thoại:

“Vinh không được quyền truy cập máy chủ nội bộ.”

“Nhưng anh ta có chìa bể,” An đáp.

“Chìa không phải quyền dữ liệu.”

“Vậy ai có quyền dữ liệu?”

Duy im.

Tí xem video, phát hiện mỗi lần Vinh xuất hiện, camera bị giật một khung ở góc phải. Cậu điều chỉnh tốc độ, nhận ra một người khác đứng ngoài vùng sáng, thường cầm bộ đàm. Người đó không bao giờ đi vào bể.

“Có thể người canh,” Tí nói.

“Hoặc người ra lệnh,” An đáp.

Biên tập viên yêu cầu họ không đưa file ra ngoài. An đồng ý, nhưng gọi phòng môi trường xin đối chiếu số liệu. Cán bộ nói nhật ký nội bộ chưa đủ pháp lý nếu không xác định nguồn và chuỗi bảo quản.

“Vậy chúng tôi phải làm gì?”

“Giữ nguyên thiết bị, không chỉnh sửa, lập biên bản người giao.”

Mẹ An nghe, nói bà không biết tên người giao.

“Vậy không có biên bản,” An nói.

“Có thể ghi người nhận hộp và thời điểm.”

An ghi.

Chiều, Duy đến tòa soạn. Anh không đòi USB, chỉ yêu cầu xem một video. An cho anh xem cảnh Vinh vào bể cùng một người mặc áo khoác có logo hợp tác xã.

Duy nhìn người kia rất lâu.

“Đó là cô Hạnh,” anh nói.

“Hạnh là ai?”

“Phụ trách sổ lịch của hợp tác xã.”

An gọi bà Hạnh. Bà không phủ nhận đã vào bể. Bà nói hợp tác xã từng cử người kiểm tra để biết nhà máy có xả đúng lịch. Bà không có thiết bị đo, chỉ ghi giờ vào sổ.

“Vì sao không báo?”

“Tôi báo bà Sáu.”

“Bà Sáu biết?”

Bà Hạnh im.

Bà Sáu đến tòa soạn sau đó. Bà thừa nhận hợp tác xã đã biết nhà máy mở nhánh nam ngoài lịch từ nhiều tháng, nhưng không có mẫu nước. Bà sợ nếu báo, nhà máy rút hỗ trợ.

“Chúng tôi đã định đàm phán lại,” bà nói.

“Định bao lâu?”

“Đến khi có bằng chứng.”

“Bây giờ có.”

“Dữ liệu bị gửi nặc danh.”

“Chị có nhận một phần dữ liệu không?”

Bà Sáu không trả lời ngay. Cô lấy từ túi một cuốn sổ, đặt cạnh USB. Sổ có cùng giờ vận hành nhưng chữ viết của bà Hạnh.

“Tôi đã giữ,” bà nói. “Tôi không đưa vì tôi sợ người ghi bị mất việc.”

An nhìn bà. “Chị muốn tôi công khai?”

“Tôi muốn em nói đúng. Hợp tác xã không chỉ bị nhà máy lừa. Chúng tôi đã chọn không nhìn.”

Duy đứng dậy. “Nếu cô đưa dữ liệu chưa xác minh lên báo, nhà máy sẽ kiện.”

Bà Sáu quay sang anh. “Nếu dữ liệu đúng thì sao?”

Duy không đáp.

Đêm ấy, An sao chép USB thành ba bản, một bản cho phòng môi trường, một bản cho luật sư và một bản cất ở xưởng ông Năm. Tí đặt máy ảnh trước màn hình để chụp checksum, dù không hiểu hết thuật ngữ.

Khi An chuẩn bị viết, một file video tự mở. Trong khung hình, Vinh nhìn thẳng vào camera, đặt một xấp giấy lên nắp bể. Người ngoài vùng sáng nói:

“Nếu chợ hỏi, nói đây là nước đã xử lý.”

Giọng người đó là của bà Sáu.
An không xem file ngay trên thuyền. Cô đưa USB cho luật sư và ghi nhận mẹ mình là người nhận hộp, dù mẹ không biết tên người giao. Họ lập một biên bản đơn giản: thời gian, vị trí, tình trạng niêm phong, người chứng kiến.

Khải nói nếu file giả, họ đang bị dẫn đi. An đáp nếu không kiểm tra, họ cũng đang để người khác quyết định đường đi.

Họ mở bản sao bằng máy ngoại tuyến. Video đầu cho thấy Vinh vào bể lúc 2 giờ 09, tay cầm bộ đàm. Video thứ hai là cảnh cửa M-17 mở lúc 2 giờ 17. Video thứ ba có Duy đứng ngoài, nhưng không thấy anh ra lệnh. Video thứ tư là bà Hạnh ghi giờ trên sổ.

An dừng ở mỗi đoạn, ghi thời gian file và chất lượng hình. Tí chụp màn hình bằng máy ảnh để nếu máy tính bị lỗi vẫn có bản hình.

“Em cứ chụp mọi thứ,” An nói.

“Vì mọi thứ có thể biến mất.”

“Đừng để câu đó thành lý do em không xóa gì.”

Tí gật.

Duy đến, yêu cầu xem video có mặt anh. An cho xem. Duy nói anh đến bể vì nhận báo áp lực tăng, không biết cửa đã mở. Anh chỉ đạo cắt bơm trong đoạn mưa vì khu dân cư có nguy cơ ngập.

“Vì sao anh đứng ngoài mà không vào?” An hỏi.

“Tôi không có quyền vào khu niêm.”

“Nhưng anh có quyền ra lệnh cho người khác?”

“Tôi gọi cấp cứu.”

“Anh gọi ai?”

Duy đưa lịch cuộc gọi. Cuộc đầu cho phòng vận hành, cuộc sau cho chính quyền. Không có cuộc gọi cho chị Vân, nhưng Duy nói đã nhắn.

“Có tin nhắn không?” An hỏi.

“Máy công ty giữ.”

Khải nhìn file, nhận ra camera bể dùng hệ thống nhà máy nhưng lưu bản phụ ở hợp tác xã. Bà Sáu hỏi ai gửi dữ liệu. Bà Hạnh nói người gửi đã gặp bà trước, bảo nếu máy chủ bị xóa, phải giữ bản giấy.

“Tại sao chị không nói?” An hỏi.

“Vì người đó nói họ sẽ mất việc.”

“Chị biết họ là ai?”

Bà Hạnh lắc đầu. “Tôi chỉ biết giọng.”

“Giọng nam hay nữ?”

“Không biết. Họ nói nhỏ.”

Một phần dữ liệu cho thấy người trong hợp tác xã đã vào bể. Bà Sáu thừa nhận cô đã cử bà Hạnh kiểm tra lịch, nhưng không có quyền tác động van. Hạnh nói cô chỉ ghi giờ.

“Vậy ai quay?” An hỏi.

Không ai biết.

Tí nhìn khung hình, thấy góc máy được đặt thấp hơn người. Người quay có thể giấu dưới thùng lọc. Cậu nói Vinh không quay vì anh xuất hiện trong cả khung.

“Có thể camera tự động,” Duy đáp.

“Camera tự động không đặt lại góc,” Tí nói.

Duy nhìn cậu, không cười.

An hỏi Vinh. Anh nói camera phụ được lắp từ trước, nhưng người quản lý dữ liệu là phòng kỹ thuật. Anh không biết ai bật chế độ lưu.

Khải chỉ vào đoạn file có giọng nói: “Nếu chợ hỏi, nói đây là nước đã xử lý.” Giọng đó giống bà Sáu, nhưng âm thanh méo. Bà Sáu không phủ nhận, nói cô từng nói câu tương tự khi hướng dẫn người dân nhận nước, vì lúc đó cô tin dữ liệu của nhà máy.

An không gọi đó là câu lệnh.

Đêm, tòa soạn nhận yêu cầu gỡ bài cũ. Biên tập viên hỏi An có chắc muốn đưa dữ liệu nặc danh vào loạt tiếp theo.

An đáp: “Không chắc. Vì vậy tôi sẽ ghi nó là dữ liệu do người chưa xác định cung cấp, không dùng một mình để kết luận.”

Trong file cuối, Vinh nhìn thẳng vào camera. Sau lưng anh, cửa M-17 mở. Người ngoài vùng sáng nói:

“Nếu chợ hỏi, nói đây là nước đã xử lý.”

Giọng người đó là của bà Sáu.
An lập bảng đối chiếu giữa video nặc danh, sổ bà Hạnh và lịch áp lực. Ba nguồn không hoàn toàn trùng, nhưng đều cho thấy cửa mở trong khoảng 2 giờ 09 đến 2 giờ 25. Cô ghi khoảng thời gian, không chọn một phút đẹp.

Duy bổ sung nhật ký cuộc gọi. Lúc 2 giờ 17, anh gọi phòng vận hành, sau đó gọi cán bộ khu phố. Anh không gọi bà Sáu, vì nghĩ hợp tác xã đã có người ở bến.

“Đó là giả định sai,” anh nói.

Bà Sáu nghe, đáp: “Tôi cũng giả định nhà máy sẽ tự báo.”

Khải nói hệ thống được tạo bởi những giả định như vậy. Người này nghĩ người kia có trách nhiệm, rồi dòng nước đi qua khoảng trống.

Tí khôi phục được một khung hình khác. Người đặt camera phụ không lộ mặt, nhưng để lại tiếng thở và tiếng va của thùng lọc. Cậu so sánh với bản ghi âm của ngày mưa, không đủ nhận diện giọng.

“Đừng cố biến âm thanh thành tên,” An nhắc.

“Em chỉ muốn biết.”

“Biết chưa đủ nếu sai.”

Tí gật, rồi ghi “người chưa xác định” vào chú thích.

Bà Hạnh đưa danh sách người từng có quyền vào bể. Có một tên đã nghỉ, một người chuyển đơn vị và một tài khoản chung. Dữ liệu càng dài, trách nhiệm càng không gọn.

An hỏi Vinh có biết tài khoản quản trị nào xóa log không. Anh nói chỉ biết tên hiển thị “admin”. Không ai có thể mở bằng chứng từ một cái tên chung.

Tòa soạn giữ USB trong két, nhưng An vẫn giữ bản sao ảnh trên máy ảnh Tí. Mỗi người giữ một phần, không ai giữ tất cả.

Cuối ngày, nhà máy gửi thông báo muốn đối thoại. Bà Sáu yêu cầu cuộc họp phải được ghi hình, có câu hỏi của dân và có biên bản.

Duy nhắn: “Tôi đồng ý.”

An hỏi: “Anh có quyền đồng ý không?”

Anh trả lời: “Tôi sẽ chịu trách nhiệm xin quyền.”

Đã sao chép liên kết chương