Chương 19
Phiên đối thoại trên bến
Phiên đối thoại được dựng trên sàn nổi, nơi trước đây người ta bán trái cây.
Không có sân khấu cao. Một bên là đại diện nhà máy, một bên là hợp tác xã, giữa là cán bộ thị trấn, phòng môi trường, luật sư và các hộ dân. An ngồi sau máy ghi âm, Tí phụ trách màn hình ảnh. Mẹ An đặt nồi cháo bên cạnh, không bán nhưng vẫn nấu cho người đến dự.
Bà Sáu nói trước. Bà thừa nhận hợp tác xã đã nhận tiền hỗ trợ, đã ký quyền điều phối và đã giữ phụ lục lịch xả không công khai. Bà nói mình từng nghĩ im lặng là cách giữ chợ sống.
“Tôi sai ở chỗ biến sự biết của một số người thành sự yên ổn của tất cả,” bà nói.
Khải trình bày biên bản nghiệm thu sai cao độ. Anh không nói mình vô tội. Anh nói số liệu sai đã tạo điều kiện cho công trình được vận hành dù bể lắng và cửa phụ chưa được kiểm tra độc lập.
“Tôi ký một trang tổng hợp,” anh nói. “Nhưng chữ ký của tôi giúp cả bộ hồ sơ đứng lên.”
Ông Năm mở bản vẽ cũ. Ông nhận mình đã giữ nó hai mươi năm, không nộp vì sợ những người ký bị kéo ra, sợ xưởng đóng ghe mất hợp đồng và sợ thị trấn lại chia rẽ. Ông nói bản đồ bị bôi không phải do một tay.
“Có người sửa,” ông nói. “Nhưng cũng có người nhìn thấy rồi giả vờ không.”
Duy trình bày dữ liệu nhà máy. Anh nói nhà máy có lịch vệ sinh bể, có thuê Vinh bảo trì, có sử dụng M-07 theo hợp đồng cũ, nhưng hồ sơ không chỉ rõ cửa phụ. Anh công nhận việc thông báo không đầy đủ và việc dùng mã ra vào chung là sai.
Luật sư nhà máy phản đối cách gọi “xả bùn thải”. Ông nói chưa có kết quả xét nghiệm chứng minh chất độc vượt chuẩn. Cán bộ môi trường xác nhận như vậy. An không phản đối.
“Nhưng mẫu đã chứng minh dòng bùn đi qua cửa xả,” cô nói. “Còn trách nhiệm chất lượng cần kết luận kỹ thuật.”
Mẹ An đứng lên. Bà nói chữ ký của mình trong hợp đồng là thật, nhưng bà không được giải thích điều khoản điều phối. Bà không xin xóa tên. Bà chỉ yêu cầu từ nay mọi phụ lục liên quan nước phải được đọc trong cuộc họp có người bán hàng và người làm công.
“Tôi không muốn bản thân mình thành cái cớ để người khác nói người dân đã đồng ý tất cả,” bà nói.
Tí trình chiếu chuỗi ảnh. Cậu không phóng to khuôn mặt. Cậu chỉ cho thấy mực nước, ánh đèn đỏ, bọt, thời gian và dòng bùn. Sau mỗi ảnh, cậu để trống một ô “chưa biết ai”.
Một người hỏi: “Vậy ảnh của cháu dùng để buộc tội ai?”
Tí đáp: “Không buộc tội. Để không ai nói lúc đó không có gì.”
Phòng họp im.
Cán bộ thị trấn công bố biên bản tạm thời: tạm dừng vận hành M-07 và M-17 cho mục đích không khẩn cấp; kiểm định độc lập bể lắng, cửa phụ và cao độ; công khai nhật ký vận hành; khôi phục quyền tiếp cận cộng đồng; lập quỹ xử lý bùn do các đơn vị có liên quan cùng đóng trong khi chờ kết luận.
Nhà máy không đồng ý nhận toàn bộ chi phí. Hợp tác xã cũng không thể đứng ngoài. Bà Sáu đề nghị chia theo mức độ sử dụng và trách nhiệm được xác định, nhưng tạm ứng một phần để xử lý khu dân cư.
Duy nói nhà máy sẽ ứng tiền làm sạch khẩn cấp, không kèm điều kiện im lặng. Anh nói thêm sẽ gửi toàn bộ hồ sơ nội bộ cho đoàn kiểm tra.
Luật sư nhìn anh. “Anh có thẩm quyền không?”
Duy đáp: “Tôi sẽ ký trong phạm vi tôi chịu.”
Khải hỏi Vinh về tài khoản quản trị. Vinh thừa nhận đã xóa log theo yêu cầu của cấp trên, nhưng không biết dữ liệu sẽ bị xóa vĩnh viễn. Anh giao mật khẩu khôi phục và đồng ý làm việc với đoàn kiểm tra.
Không ai vỗ tay. Một người chịu trách nhiệm không làm những người khác vô tội.
Biên bản cuối ghi bốn việc: khôi phục dữ liệu, đo lại toàn tuyến, sửa hợp đồng hỗ trợ và lập hội đồng vận hành có người dân. Chợ chỉ mở từng phần sau khi mẫu nước đạt mức an toàn.
An đọc lại từng dòng trước khi ký. Cô thấy tay mình dính mùi cháo và mực máy in.
Mẹ cô nói: “Lần này con đọc cả phần cuối.”
An gật.
Cuối buổi, nhà máy đưa một bản cam kết khác. Không ai ký ngay. Bà Sáu yêu cầu đem về đọc với từng hộ. Duy không phản đối.
Trước khi rời sàn nổi, An nhìn dòng sông. Nước đã lên một ít sau mưa, đủ đẩy một chiếc lá đi qua cọc cũ. Nhưng chợ vẫn chưa nổi.
Khải cúi xuống nhặt một mảnh kim loại từ bùn. Mặt sau khắc:
“LUỒNG CHUNG KHÔNG CÓ NGƯỜI CHỦ.”
An xin mọi người giữ im lặng một phút trước khi ký. Cô đọc biên bản từ đầu, đánh dấu những câu chỉ là kết quả tạm thời và những câu đã có số liệu. Không ai được dùng từ “bồi thường” cho phần chưa có kết luận. Không ai được dùng từ “tai nạn” để xóa lịch vận hành.
Đại diện nhà máy trình bày kế hoạch: tạm dừng M-07 và M-17 cho đến khi cải tạo; xây lại bể lắng theo dung tích độc lập; lắp hệ thống theo dõi công khai; hoàn trả chi phí nước sạch và xử lý khẩn cấp. Họ không nhận toàn bộ trách nhiệm pháp lý, nhưng đồng ý không yêu cầu người dân im lặng.
Bà Sáu trình bày phần hợp tác xã: công khai hợp đồng hỗ trợ, hủy mã ra vào chung, thành lập hội đồng vận hành, rà soát toàn bộ chữ ký và phụ lục. Bà nói hợp tác xã sẽ trả phần chi phí do việc quản lý kém, nhưng cần hỗ trợ để không đẩy các hộ nghèo ra khỏi chợ.
Khải trình bày phần cá nhân: biên bản nghiệm thu có sai cao độ, anh đã ký trang tổng hợp, và anh sẽ làm việc với đoàn điều tra. Anh không hứa tìm được người ra lệnh, chỉ hứa không xóa bản ghi mình có.
Duy nói phần của anh là đưa dữ liệu nhà máy ra ánh sáng, kể cả dữ liệu bất lợi. Luật sư công ty hỏi anh có thẩm quyền không. Duy đáp anh có thể giao những gì anh được phép và làm chứng cho những gì anh biết.
“Nếu không được phép?” An hỏi.
“Tôi sẽ nói là không được phép.”
Tí trình chiếu ảnh cuối. Cậu đặt ảnh van, ảnh bể, ảnh bùn, ảnh chữ ký, ảnh bản đồ và ảnh những người xếp hàng nước cạnh nhau. Không ảnh nào đứng giữa, không ảnh nào được phóng to hơn.
Một chủ thuyền hỏi: “Vậy cuối cùng ai làm cạn chợ?”
An đáp: “Kết luận trách nhiệm cụ thể còn chờ. Nhưng chúng ta biết hệ thống đã cho phép nước đi qua mà không có người chịu trách nhiệm rõ ràng.”
Người đó không hài lòng. “Tôi cần tên.”
“Tên sẽ có khi kiểm tra xong. Nếu ghi sai hôm nay, ngày mai người sai thật sẽ dùng sai lầm đó để trốn.”
Mẹ An đứng lên. Bà nói chợ có thể mở từng phần sau khi mẫu nước đạt chuẩn, nhưng không được mở chỉ vì ai đó cần doanh thu. Hàng hóa hỏng là thiệt hại, sức khỏe người dân cũng vậy.
Phòng môi trường công bố kết quả sơ bộ: mẫu bùn có dấu hiệu cần kiểm tra thêm, chưa đủ kết luận độc tính; mẫu nước phải tiếp tục theo dõi. Chính quyền ban hành lịch lấy mẫu công khai.
Nhà máy ký biên bản ứng tiền xử lý, không kèm điều khoản độc quyền. Hợp tác xã ký phần cải thiện quản lý. Các hộ ký xác nhận nhận nước sạch và quyền được biết lịch vận hành.
Một số người vẫn không ký. Họ có quyền chờ.
Duy đặt bản cam kết xuống. “Tôi không mong mọi người tin ngay.”
Bà Sáu đáp: “Tốt. Hãy làm để họ không phải tin bằng lời.”
Sau cuộc họp, An gọi cho biên tập viên, nói loạt bài chưa kết thúc. Còn nhiều hồ sơ phải đối chiếu. Anh bảo độc giả thích kết thúc nhanh.
“Chợ cũng không nổi nhanh,” An nói.
Khải dẫn ghe qua đoạn luồng đã được bơm nước tạm. Thuyền nổi, nhưng máy đo vẫn phải chạy. Tí ngồi đầu ghe, chụp mảnh kim loại trong tay anh.
Mặt sau khắc:
“LUỒNG CHUNG KHÔNG CÓ NGƯỜI CHỦ.”
Và trước khi họ kịp về bến, hội đồng nhận được tin: kết quả mẫu bùn chính thức đã bị gửi nhầm sang một địa chỉ không tồn tại.
Tin kết quả mẫu bị gửi nhầm làm phiên đối thoại căng hơn. Phòng môi trường nói bản gửi nhầm không phải bản chính thức; nhà máy nói chưa biết ai chuyển; hợp tác xã yêu cầu phòng thí nghiệm lập lại chuỗi gửi.
An hỏi ai có quyền gửi. Cán bộ nói ba người: phòng thí nghiệm, đơn vị nhận và người ký biên bản. Không ai nhận đã gửi địa chỉ không tồn tại.
Mẹ An đứng bên cạnh, nói nếu mẫu không đến được nơi cần đến, người dân phải được lấy lại mẫu, không thể chờ lời giải thích.
Cuộc họp quyết định lấy mẫu bổ sung ngay hôm đó. Lần này người dân tự chọn vị trí, cán bộ lấy, nhà máy chứng kiến, hợp tác xã ghi, phòng thí nghiệm nhận trực tiếp. Sáu người cùng ký hộp.
Duy đề nghị nhà máy trả phí. Bà Sáu đồng ý nhưng yêu cầu không được chọn phòng thí nghiệm. Một đơn vị độc lập được chọn bằng cách bốc thăm trong danh sách đủ điều kiện.
“Không phải bốc thăm là công bằng tuyệt đối,” luật sư nói. “Nhưng có quy trình để giảm khả năng chọn theo lợi ích.”
An ghi vào biên bản.
Khải đưa lời khai Vinh, bảng cao độ và nhật ký bảo trì. Anh nói mình không biết ai chỉ đạo xóa log, nhưng chịu trách nhiệm vì đã từng ký nghiệm thu thiếu kiểm tra.
Vinh xác nhận tài khoản admin bị dùng, nhưng chưa biết ai. Anh giao chìa cũ, mã ra vào và sổ công cụ.
Bà Sáu ký bản sửa hợp đồng hỗ trợ, xóa quyền điều phối chung và thay bằng danh sách nhiệm vụ cụ thể. Mẹ An ký với điều kiện phụ lục phải được đọc cho người ký trước khi đóng dấu.
Duy ký cam kết công khai dữ liệu nhà máy trong giới hạn pháp luật, không hứa công khai mọi bí mật thương mại. An hỏi dữ liệu lưu lượng có phải bí mật thương mại không. Luật sư nói phần ảnh hưởng môi trường và cộng đồng phải được cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền.
Tí trình chiếu tấm ảnh không đủ. Cậu nói nó không xác định ai mở van, nhưng đặt đúng giờ. Cậu đặt ảnh cạnh sổ, bản đồ và lời khai.
Một chủ thuyền hỏi nếu sau này có người bị xử lý, ảnh có được dùng không. Cán bộ nói tùy quá trình giám định.
Tí bảo vậy là đủ; ảnh không cần tự làm tất cả.
Bản biên bản cuối ghi rõ chưa kết luận độc tính, chưa kết luận cá nhân nào xả bùn, nhưng đã xác định hệ thống có sai cao độ, bể bị giảm dung tích, cửa M-17 vận hành và dữ liệu bị quản lý không đầy đủ.
Nhà máy ứng tiền xử lý khu dân cư. Hợp tác xã ứng tiền hỗ trợ hộ buôn bán. Chính quyền tạm thời bảo vệ khu cửa phụ. Chi phí cuối cùng sẽ phân theo kết luận.
Không ai gọi đó là kết thúc.
Khải dẫn ghe qua luồng tạm, đo áp lực. Nước đã đi, nhưng mực chưa đủ cho chợ lớn.
Hội đồng nhận tin kết quả mẫu chính thức bị gửi nhầm sang địa chỉ không tồn tại.
Lần này, không ai được phép nói đó chỉ là lỗi nhỏ.