Chợ Nổi Ngày Không Nước
9 phút đọc

Chương 16

Máy chủ trống

Máy chủ của hợp tác xã trống đúng lúc đoàn kiểm tra đến.

Không phải mất điện. Màn hình vẫn sáng, đèn mạng vẫn nhấp nháy, nhưng thư mục “M-07” chỉ còn những file rỗng. Nhật ký vào ra của hệ thống bị xóa từ 2 giờ 17 đến 3 giờ 05, đúng khoảng thời gian trước khi bể tràn.

Bà Hạnh đứng trước máy, mặt trắng bệch.

“Tôi không xóa.”

Bà Sáu hỏi ai có mật khẩu. Bà Hạnh, kế toán, trưởng ban kỹ thuật và một nhân viên nhà máy được cấp quyền xem. Duy nói nhà máy không được quyền chỉnh sửa.

An kiểm tra thùng rác hệ thống. Không có gì. Tí chụp màn hình trước khi máy bị tắt. Khải tháo ổ cứng phụ, nhưng cán bộ yêu cầu niêm phong.

“Nếu không còn file, chúng ta còn gì?” mẹ An hỏi.

“Còn ảnh, biên bản và lời khai,” An đáp.

“Những thứ đó có bị xóa không?”

An không trả lời.

Luật sư tòa soạn đến, yêu cầu lập biên bản máy chủ bị xóa và giữ nguyên thiết bị. Đại diện nhà máy nói có thể do lỗi đồng bộ. Một chuyên viên độc lập nhìn nhật ký hệ thống, nói thao tác xóa xảy ra theo lệnh quản trị, không phải lỗi.

“Ai có quyền quản trị?” An hỏi.

Bà Hạnh đưa danh sách. Tên cuối là Vinh.

Duy nhìn giấy, môi mím lại. “Vinh chỉ có quyền bảo trì.”

“Bảo trì gồm xóa log?” chuyên viên hỏi.

“Tôi không biết.”

Vinh được gọi đến. Anh ta không nhận xóa. Nói tài khoản có thể bị dùng từ xa. Anh ta đưa điện thoại cho xem lịch vị trí: thời gian xóa, anh ở khu bể sau trận mưa.

“Có ai thấy anh?” An hỏi.

“Đội cứu hộ.”

“Điện thoại có thể để ở đó.”

Vinh nhìn cô. “Tôi biết.”

Anh không nổi giận. Anh nói nhà máy đã bảo anh làm sạch máy chủ vì hệ thống bị nhiễm bẩn dữ liệu, nhưng không bảo xóa. Duy quay sang:

“Ai ra lệnh?”

“Phòng pháp chế.”

“Tên?”

Vinh không nói.

Khải hỏi anh có giữ bản nhật ký giấy không. Vinh lấy từ túi áo một quyển sổ ướt. Một số trang bị nhòe, nhưng giờ vào bể vẫn đọc được.

“Tại sao không đưa sớm?” Khải hỏi.

Vinh đáp: “Vì tôi đã nhận tiền làm thêm để sửa van.”

“Anh sửa gì?”

“Tôi thay gioăng. Tôi biết cửa M-07 rò.”

“Anh biết nhánh nam có bùn?”

“Tôi thấy bùn. Tôi không biết nguồn.”

An hỏi ai dùng M-07 lúc 2 giờ 17. Vinh nói thẻ ra vào ghi một mã chung, dùng cho cả đội nhà máy và hợp tác xã. Mã đó không xác định được người.

Bà Sáu cúi đầu.

“Tôi đã xin mã chung để chủ thuyền có thể vào lấy nước khi nhà máy đóng,” bà nói.

An nhìn bà. “Chị cho bao nhiêu người?”

“Không nhớ.”

“Đó là lỗ hổng.”

“Tôi biết.”

Mọi người im lặng trước sự thừa nhận không có ai để đổ thay.

Tí hỏi chuyên viên có khôi phục file được không. Người này nói dữ liệu gốc có thể còn trong vùng chưa ghi đè, nhưng cần bản sao ổ cứng và thời gian. Nhà máy yêu cầu không sao chép vì máy chủ thuộc đơn vị quản lý.

Luật sư nói nếu có tranh chấp, thiết bị phải được tạm giữ theo biên bản.

Duy ký trước. Anh nói nhà máy đồng ý niêm phong, dù việc đó có thể làm dừng vận hành.

“Anh đang chống lại nơi anh làm,” An nói.

“Tôi đang giữ thiết bị để biết mình đã làm gì.”

“Anh nói ‘mình’ gồm ai?”

“Nhà máy, hợp tác xã, trạm bơm, tất cả những người ký.”

Tối, An và Tí làm việc ở xưởng ông Năm. Họ đặt ba bản sao dữ liệu lên bàn, đối chiếu checksum, rồi nhận ra USB nặc danh và nhật ký của bà Hạnh có một khoảng thời gian trùng. Người gửi không chỉ lấy dữ liệu nhà máy; họ đã lấy sổ hợp tác xã.

Tí mở một file hình ảnh bị ẩn trong thư mục rỗng. File chỉ có tên “M-17-old”. Hình ảnh chụp mặt trong cửa xả bùn, trên tường có bảy vạch đánh dấu.

“Bảy lần xả?” An hỏi.

“Hoặc bảy mức.”

Ông Năm nhìn ảnh. “Vạch này do kỹ sư Lâm ghi. Ông ấy không ghi khi bể rỗng.”

Khải ngồi bên cửa. “Cha Duy biết.”

An hỏi: “Anh sẽ nói không?”

“Không phải tôi nói. Bản vẽ nói.”

Ngoài xưởng, một chiếc xe máy dừng rồi đi. Sáng hôm sau, ổ cứng dự phòng của ông Năm biến mất.

Trên bàn chỉ còn một mảnh giấy:

“Ảnh còn, nhưng bản đồ không.”

An không gọi đó là lời đe dọa ngay. Cô kiểm tra cửa xưởng, dấu bùn, ổ khóa và camera của tòa nhà bên cạnh. Camera chỉ ghi được một chiếc xe đi qua, không thấy người. Ông Năm nói chiếc ổ cứng đã đặt trong ngăn kéo không khóa vì ông nghĩ xưởng là nơi mọi người có thể vào lấy đồ.

“Tôi đã mở cửa cho người khác quá lâu,” ông nói.

“Không phải lỗi của ông nếu người ta lấy.”

“Nhưng tôi biết đồ quan trọng không nên để như vậy.”

Tí xem lại ảnh chụp ổ cứng lần cuối. Trong phản chiếu mặt kim loại, có một bóng người cầm túi. Cậu phóng lớn, thấy trên túi một miếng dán hình con cá. Mã này trùng với đơn vị vận chuyển của nhà máy, nhưng chưa biết ai dùng.

Khải nói cần báo mất dữ liệu. Ông Năm không muốn vì sợ người ta khám xưởng, nhưng cuối cùng đồng ý. Cán bộ lập biên bản, ghi rõ ổ cứng chứa bản sao bản đồ và ảnh, không phải tài sản thuộc cơ quan nhà nước.

“Nếu dữ liệu không chính thức, sao phải tìm?” cán bộ hỏi.

An đáp: “Vì dữ liệu chính thức đã bị xóa.”

Tại hợp tác xã, máy chủ bị niêm phong. Chuyên viên phục hồi thử lấy dữ liệu, nhưng vùng ổ cứng đã bị ghi đè một phần. Nhật ký truy cập chỉ còn những mốc rời. Tài khoản Vinh xuất hiện lúc 2 giờ 21, sau khi cửa mở; tài khoản bà Hạnh xuất hiện lúc 2 giờ 30; một tài khoản quản trị không tên xuất hiện lúc 2 giờ 58.

“Tài khoản không tên là gì?” An hỏi.

“Tài khoản hệ thống.”

“Ai tạo?”

“Không thể biết nếu phần quản lý bị xóa.”

Duy đứng sau, nghe hết. Anh nói nhà máy có thể cho mượn chuyên gia phục hồi, nhưng hợp tác xã từ chối cho người có lợi ích liên quan vào máy.

“Tôi không vào,” Duy nói. “Tôi chỉ giới thiệu.”

Bà Sáu đáp: “Giới thiệu cũng ghi vào biên bản.”

Những ngày tiếp theo, chợ vẫn đóng một phần. Nước sạch phát theo giờ. Mẹ An dùng nồi cháo làm điểm phát tin; ai đến nhận nước phải nghe thông báo mẫu nước và lịch kiểm tra. Bà nói không lấy tiền, nhưng mỗi người giúp ghi danh.

An nhận ra mẹ đang làm thứ hợp tác xã đã không làm đủ: biến thông tin thành một phần của sinh kế.

Vinh ký lời khai. Anh thừa nhận đã đăng nhập máy chủ để sao chép dữ liệu, sau đó nhận lệnh xóa các file “không cần lưu”. Anh nói người giao lệnh dùng số nội bộ, không có chữ ký. Khi An hỏi vì sao không từ chối, Vinh nói:

“Tôi cần ca. Tôi cần tiền. Tôi nghĩ dữ liệu vẫn còn trong hệ thống.”

Khải hỏi: “Anh có mở M-07?”

“Có. Tôi mở để giảm áp.”

“Ai bảo?”

“Lịch vận hành.”

“Lịch do ai ký?”

Vinh im.

An không ép anh nói tên nếu chưa có giấy. Cô ghi rằng lời khai còn thiếu người ra lệnh.

Tí khôi phục được một thư mục ảnh từ thẻ cũ. Trong đó có ảnh ông Năm chỉ vào cửa phụ, ảnh bà Sáu nhận hồ sơ, ảnh Duy đứng bên bến và ảnh Vinh cầm tay quay. Không tấm nào đủ một mình, nhưng tất cả nằm trong cùng chuỗi thời gian.

Biên tập viên hỏi An có thể viết “dữ liệu bị xóa” không. An nói máy chủ bị xóa một phần, ổ cứng bị lấy, nhưng chưa biết ai làm.

“Em làm bài khó đọc,” anh nói.

“Sự việc cũng khó đọc.”

“Độc giả muốn tên.”

“Tên chưa đúng thì thành oan.”

Đêm, Khải tìm thấy một bản bản đồ khác trong kho ghe cũ. Nó không có nhánh nam, nhưng mặt sau ghi số hộ dân từng sử dụng nước. Một số tên trùng với những người đang phản đối chợ đóng.

“Họ từng được cấp nước qua M-07,” Khải nói.

“Vậy họ cũng là người có lợi ích.”

“Và có thể có trách nhiệm.”

An đặt bản đồ lên bàn, cạnh ảnh Tí. Không có bản đồ, họ vẫn có người nhớ, người đo và người từng sống trong dòng nước.
An đem mảnh giấy đến phòng môi trường, nhưng cán bộ nói không thể xác định người viết. Cô hỏi có thể kiểm tra loại giấy không. Không đáng kể, nhưng giấy thuộc loại dùng trong nhà máy, cũng được bán ngoài thị trường.

“Mọi thứ đều có thể thuộc về nhiều người,” Khải nói.

“Vậy phải có chuỗi sử dụng.”

Họ dựng lại chuỗi: ổ cứng ở xưởng ông Năm, máy chủ hợp tác xã, USB nặc danh, ảnh Tí, sổ bà Hạnh, lời khai Vinh. Mỗi mảnh có người giao, thời điểm và giới hạn.

Tí đánh dấu màu đỏ những thứ chưa xác định nguồn. Cậu không thích bảng đỏ nhiều hơn bảng xanh, nhưng An bảo đó là phần trung thực nhất.

Duy xin được bản sao nhật ký xe. Một chuyến chở túi lọc đi qua cổng lúc 1 giờ 58, nhưng không có điểm đến. Người phụ trách vận tải nói xe về kho phía nam. Kho phía nam gần cửa phụ.

“Anh có thể ký xác nhận?” An hỏi.

“Có.”

“Anh chắc?”

“Tôi đã thấy sổ.”

Lần đầu Duy nói một câu chắc chắn.

Vinh khai tài khoản admin được tạo khi hệ thống nâng cấp, mật khẩu chia cho ba đội. Một người nghỉ, một người chuyển, một người vẫn làm. Không ai đổi quyền cũ.

“Tài khoản chung là vấn đề,” chuyên viên nói.

“Nhưng không phải bằng chứng ai xóa,” An đáp.

“Đúng.”

Bà Sáu yêu cầu nhà máy hỗ trợ phục hồi dữ liệu nhưng không được nhận máy chủ. Nhà máy đồng ý cử chuyên gia đứng ngoài chứng kiến. Luật sư yêu cầu mọi thao tác ghi hình.

Khải tìm thấy ổ cứng dự phòng của ông Năm trong một thùng gỗ khác, không phải chiếc bị mất. Nó chứa ảnh bản đồ nhưng thiếu file cuối. Ông Năm nói đã từng sao chép để đưa cho một người, không nhớ ai.

“Tôi đang trở thành một chiếc tủ không nhớ chìa,” ông nói.

An bảo ông không cần nhớ một mình. Họ gọi những người từng xem bản vẽ, lập danh sách.

Một hộ dân nhớ đã chụp bản đồ bằng điện thoại. Họ gửi ảnh, góc nhánh nam còn một phần. Một công nhân cũ gửi ảnh bảng ca. Mỗi người thêm một mảnh.

Máy chủ trống không còn là khoảng trống duy nhất.

Trong đêm, Tí tìm thấy tên file ẩn “M-17-old”. Khi mở, ảnh cho thấy bảy vạch bùn trong bể, mỗi vạch có ngày. Vạch cuối trùng ngày hợp đồng hỗ trợ.

Đã sao chép liên kết chương