Chợ Nổi Ngày Không Nước
9 phút đọc

Chương 7

Bản vẽ ông Năm

Ông Năm mở cuộn giấy trên mặt bàn đóng ghe, giữa mùi mùn cưa và keo gỗ.

Bản vẽ được vẽ bằng mực xanh, nhiều chỗ lem vì nước. Nó không phải bản đồ địa chính. Đó là sơ đồ luồng, van và bể lắng do ông Năm tự vẽ cách đây hai mươi hai năm, khi thị trấn còn chưa có kè bê tông.

“Tôi không vẽ để làm hồ sơ,” ông nói. “Tôi vẽ để ghe khỏi mắc.”

An cúi xuống. Nhánh chính của sông chạy từ thượng nguồn, qua trạm bơm, rồi chia thành ba đường. Một đường giữ mực nước cho chợ, một đường đưa nước vào trạm lọc, một đường chạy về khu xưởng.

Nhánh thứ ba bị khoanh bằng mực đỏ.

“Nhánh nam,” Khải nói.

Ông Năm chỉ vào chữ ghi cạnh đó: “bể lắng phụ – không xả khi nước thấp”.

“Bể lắng ở đâu?” An hỏi.

“Dưới kè cũ.”

“Kè cũ đã bị lấp.”

“Trên mặt đất.”

Ông lấy thước gỗ đo khoảng cách từ bến cũ đến cọc M-07. Con số khớp với bản vẽ. Sau đó ông đo từ M-07 đến nhà máy. Nhánh nam không chạy thẳng vào khu công nghiệp như An nghĩ; nó vòng qua một bãi đất thấp, nơi thị trấn đã dựng khu dân cư tạm.

“Nếu bùn ra khỏi bể lắng, nó đi qua đây,” ông nói.

Khải nhìn nét đỏ. “Bản vẽ ghi thời điểm nào?”

“Thời điểm vận hành thử.”

“Ai giao cho ông?”

“Trạm bơm.”

“Vậy sao không nộp?”

Ông Năm cười không vui. “Hồi đó tôi đóng ghe. Người ta cần ghe chạy, không cần tôi hiểu bùn đi đâu.”

An chụp bản vẽ. Ông Năm dùng tay che một góc.

“Đừng đưa phần này.”

“Vì sao?”

“Tên những người ký.”

Góc giấy có danh sách gồm trưởng trạm, đại diện thị trấn, hợp tác xã và nhà thầu. Chữ ký cuối cùng thuộc về một người tên Lâm, cha của Duy. An biết Duy từ nhỏ; cha anh từng làm cán bộ xây dựng, sau đó sang điều hành dự án nhà máy.

Khải đọc tên, im lặng.

“Anh biết ông Lâm ký?” An hỏi.

“Biết ông ấy có mặt. Không biết ký gì.”

An thấy trong mắt Khải không chỉ có sợ hãi mà còn có sự xấu hổ. Anh đã làm việc dưới những người này, ký những bảng không đầy đủ, rồi rời đi khi dự án chuyển sang tay nhà máy.

Tí đứng ngoài cửa xưởng. Cậu chụp bản vẽ qua khe, nhưng máy ảnh hết pin. Ông Năm đưa cho cậu cục pin dự phòng.

“Chụp cả bàn tay,” ông nói.

“Tại sao?”

“Một bản vẽ bị thay, người ta vẫn nhớ ai đã giữ nó.”

An gọi phòng lưu trữ huyện. Cô hỏi hồ sơ trạm bơm và bể lắng phụ. Nhân viên nói hồ sơ có, nhưng phần bản vẽ kỹ thuật được đánh dấu “không công bố vì liên quan an toàn công trình”. Cô xin trích lục, được hẹn ba ngày.

“Ba ngày lâu quá,” An nói.

“Cô có thể nộp đơn chính thức.”

“Tôi sẽ nộp.”

Khải hỏi ông Năm còn bản nào khác. Ông lắc đầu, nhưng lấy một tờ giấy nhỏ từ trong ống đựng đinh. Đó là bảng màu nước do một kỹ sư tên Lâm ghi, có những cột “độ đục”, “mùi”, “bùn lắng”.

Các chỉ số ở nhánh nam cao hơn hẳn. Bên cạnh có dòng: “Không dùng cho chợ sau 2 giờ 17.”

“Tại sao chợ vẫn nhận?” An hỏi.

Ông Năm không đáp.

Khải đặt tay lên bảng. “Vì cửa trả nước của nhánh nam nối với nhánh chợ khi áp lực tăng.”

“Tức là bùn có thể vào luồng.”

“Nếu người vận hành mở sai.”

“Hoặc cố tình.”

Khải nhìn An. “Đừng vội gọi là cố tình.”

“Tôi đang nói khả năng.”

“Khả năng này có thể khiến người dân đập nhà máy.”

“Nếu tôi không nói, họ sẽ đập ai? Những người trên ghe?”

Buổi chiều, một người đàn ông tên Vinh đến xưởng. Anh mặc áo khoác có logo nhà máy, đứng ngoài cửa, không bước vào. Ông Năm nhận ra anh, nhưng không chào.

“Tôi muốn lấy lại bản vẽ,” Vinh nói.

“Bản vẽ của tôi,” ông Năm đáp.

“Tài liệu thuộc dự án.”

“Tôi tự vẽ.”

Vinh nhìn An. “Nhà máy sẽ trả tiền sao chụp nếu cô cần.”

An giơ điện thoại. “Anh có thể nói rõ nhà máy có quyền gì với bản vẽ này?”

Vinh không trả lời. Anh chỉ bảo Duy muốn gặp An.

“Bảo anh ta gặp ở nơi công khai,” An nói.

Vinh đi rồi, Khải nhìn theo. “Vinh từng trực ca đêm.”

“Anh nói anh ta làm cho nhà máy.”

“Anh ta làm cả hai thời.”

Tí phóng ảnh bản vẽ trên máy tính. Ở mép dưới có một dấu tay dính mực đỏ. Cậu đo kích thước vân tay bằng thước, rồi nhận ra dấu tay nằm trên phần bị bôi.

“Có người đã kéo mực qua nhánh nam,” Tí nói.

Ông Năm nhìn cậu. “Không phải nước làm nhòe?”

“Nét bút đi ngược hướng nước.”

An ghi chú. Cậu bé không chứng minh được trách nhiệm, nhưng nhìn thấy cách một người sửa câu chuyện trên giấy.

Đêm đó, ông Năm khóa xưởng bằng ba ổ. Trước khi An về, ông gọi cô lại:

“Nếu cô viết, viết cả tôi.”

“Vì ông giữ bản vẽ?”

“Vì tôi đã giữ nó quá lâu.”

Ngoài sông, bùn khô nứt thành từng mảng. Dưới một mảng nứt, Tí nhìn thấy dòng số được đóng bằng kim loại:

M-07 / NHÁNH NAM / BỂ LẮNG PHỤ.

Ngay bên cạnh, có dấu mới của một đôi giày bảo hộ.
Ông Năm bảo Tí không bước lên dấu giày. Cậu vòng ra bên cạnh, đặt một chiếc thước gỗ để giữ tỷ lệ rồi chụp. Vết đế có ba rãnh ngang và một miếng kim loại bị mẻ. Khải nói loại giày này dùng ở khu bể, nhưng nhiều công nhân có thể mang.

An gọi Duy hỏi nhà máy có danh sách phát giày bảo hộ không. Duy nói có nhưng dữ liệu nhân sự không thể chia sẻ. An hỏi ít nhất có thể xác nhận mẫu đế không. Duy không trả lời.

Ông Năm cuộn bản vẽ lại một phần. Ông chỉ cho An một góc bị xé, nơi lẽ ra ghi năm cải tạo bể lắng. Bên dưới lớp giấy là mực chì của một người khác:

“Nếu bỏ kè cũ, nhánh nam phải có cửa xả riêng.”

“Ai viết?” An hỏi.

“Kỹ sư Lâm.”

“Cha Duy?”

“Ừ.”

“Ông ấy có phản đối việc san bể?”

Ông Năm nhìn ra cửa. “Ông ấy nói bể có thể chứa bùn của một mùa. Không chứa được bùn của cả nhà máy.”

“Vậy ai quyết định?”

“Người trả tiền.”

Câu trả lời quá gọn. An hỏi tiếp, ông Năm mới kể công trình bến mới lúc đầu chỉ định nạo vét luồng, nhưng nhà thầu đề nghị san một phần bể để có mặt bằng tập kết. Hợp tác xã cần bến trước mùa du lịch, nhà máy trả thêm tiền cho tiến độ, chính quyền muốn khánh thành đúng ngày. Bể bị thu nhỏ từng mét mà không ai đo lại.

“Chị Sáu biết?” An hỏi.

“Ai cũng biết bãi đất rộng hơn.”

“Nhưng không biết bể nhỏ hơn?”

“Đó là cách người ta không biết.”

Khải nhận bản vẽ, đối chiếu với bảng vận hành. Nhánh nam có hai cửa, M-07 và M-17. Cửa M-17 nằm sau phần bể đã san. Nếu bể không còn đủ sức chứa, mọi lần vệ sinh đều gây áp lực ngược.

“Công trình được nghiệm thu sau khi san?” An hỏi.

Khải lật hồ sơ. “Có.”

“Không đo lại?”

“Không có mục đo thể tích.”

An ghi vào sổ. Một thiết kế có thể đúng lúc xây, nhưng sai khi đất đã đổi.

Tí hỏi ông Năm vì sao ông không nộp bản vẽ. Ông già im một lúc, rồi nói xưởng ông nhận hợp đồng đóng ghe cho nhà máy. Không lớn, nhưng đủ trả tiền thuốc cho vợ. Khi ông nói bản vẽ có vấn đề, nhà thầu bảo ông chỉ là thợ, không hiểu quy hoạch.

“Tôi bị gọi là người thích gây chuyện,” ông nói.

“Bây giờ ông vẫn sợ?”

“Sợ. Nhưng sợ lâu quá thành một kiểu nói dối.”

An chụp cả khuôn mặt ông, nhưng ông yêu cầu không đăng ảnh khi chưa hỏi lại. Cô đồng ý.

Vinh quay lại xưởng, lần này không đòi bản vẽ. Anh hỏi ông Năm có thấy một cuốn sổ bìa đỏ không. Ông Năm nói không. Vinh nhìn thấy Tí đang sao chép ảnh, bèn bảo cậu không được lưu vào máy trường.

“Vì sao?” Tí hỏi.

“Máy trường không an toàn.”

“Anh biết à?”

Vinh nhìn An. “Tôi biết có người đang tìm dữ liệu.”

“Anh có báo không?”

“Tôi đang báo.”

“Báo cho ai?”

Vinh không trả lời, nhưng lấy từ túi một thẻ ra vào cũ. Trên thẻ có tên anh và dòng “kỹ thuật liên ngành”. Quyền vào bể đã hết hạn ba tháng trước, nhưng hệ thống vẫn nhận.

Khải hỏi ai gia hạn. Vinh nói không biết, chỉ thấy thẻ hoạt động.

An chụp thẻ. Vinh yêu cầu cô không nêu tên anh.

“Tôi chưa có lý do giấu,” cô nói.

“Tôi có.”

Anh rời xưởng. Ông Năm nhìn theo, bảo Vinh ngày trước là người học nghề rất nhanh, nhưng càng làm lâu càng biết mình không có quyền hỏi.

Tối, An đặt bản vẽ, lịch xả và ảnh Tí cạnh nhau. Đường ống trên bản vẽ chạy thấp hơn đường kè hiện tại. Khi mưa lớn, nước sẽ dồn về nhánh nam. Khi nhà máy vệ sinh, bùn sẽ tìm cửa gần nhất.

Ngay bên cạnh dấu giày, một mảnh kim loại mới được đóng xuống đất. Trên đó ghi:

“M-17 – ĐÃ NGỪNG TỪ NĂM 2019.”

Khải sờ mảnh kim loại. Mặt dưới còn ấm.
Khải đặt mảnh kim loại vào túi riêng, không giao ngay cho ai. An nhắc anh vật chứng phải có chuỗi bảo quản. Anh tháo túi, viết tên mình, giờ nhận và vị trí tìm thấy.

“Anh thấy phiền không?” An hỏi.

“Có. Nhưng phiền còn hơn để người khác nói tôi tự lấy.”

Ông Năm cho biết dấu giày có thể thuộc đội sửa kè, không nhất thiết Vinh. Họ gọi một người thợ cũ đến xem mẫu đế. Người này nói giày loại phổ biến, chỉ nhận ra miếng kim loại mẻ là do đi trên đá sắc.

An ghi cả kết quả không xác định. Tí hỏi nếu mọi thứ đều “chưa biết” thì bao giờ mới thành sự thật.

Ông Năm đáp: “Khi đủ người cùng chịu khó loại từng khả năng.”

Tối, Duy gửi một phần danh sách thiết bị bảo hộ. Nhà máy phát ủng cùng loại cho bốn đội, trong đó có đội của Vinh và đội bảo trì bể. Danh sách không xác định đôi giày, nhưng chứng minh nhiều người có thể mang.

An không dùng đôi giày để chỉ một người nữa. Cô chuyển trọng tâm sang vết sơn mới trên mảnh kim loại và thời điểm nó được đóng.

Khải đo nhiệt mảnh kim loại, nói nó còn ấm vì vừa tiếp xúc tay hoặc vừa nằm dưới nắng. Tí chụp đồng hồ đo, rồi ghi rõ đây chỉ là quan sát, không phải thời gian đóng cọc.

Bản vẽ vẫn nằm giữa bàn, phần nhánh nam bị bôi, nhưng bên dưới lớp mực đã có thêm một nét chì hướng về khu dân cư.

Đã sao chép liên kết chương