Người Thừa Kế Của Nhà Ga Nhỏ
8 phút đọc

Chương 11

Chương 11

Người dân chia thành hai nhóm. Những hộ có đất nằm trong vùng dự án muốn bán để nhận tiền. Những hộ sống nhờ tuyến tàu cho rằng bán ga sẽ khiến họ mất đường xuống huyện.

Cuộc họp kéo dài đến khi phòng chờ tắt điện. Khoa đưa ra bảng đền bù, trong đó có khoản hỗ trợ chuyển đổi nghề. Bà Lý hỏi khoản đó kéo dài bao lâu; anh nói hai năm.

Ông Sáu Vận nói đường ray không chỉ chở người. Nó mang thư, thuốc, phân bón và tin tức. Một người đáp điện thoại đã thay thư, xe tải thay hàng, vậy ga chỉ còn là kỷ niệm.

Mai không phản bác ngay. Cô hỏi người đi khám bệnh mất bao lâu nếu dùng xe khách, ai trả phí khi xe không chạy và hàng chè sẽ đi theo đường nào lúc cầu đường bị đóng.

Không ai có đủ câu trả lời. Khoa thừa nhận khu nghỉ dưỡng chỉ cam kết đường nội bộ, không cam kết vận chuyển cho cả bốn làng.

Tùng đề nghị thử mô hình vé kết hợp: người đi mua vé, hàng hóa trả theo cân, quỹ cộng đồng bù phần thiếu minh bạch. Công ty đường sắt phải đồng ý lịch và an toàn.

Một số người cười vì nghĩ đó là chuyện viển vông. Bà Lý đặt hộp tiền cơm lên bàn, nói quán có thể góp mỗi chuyến một phần.

Mai nhận ra giữ ga không thể dựa vào một người thừa kế. Cô đề nghị lập nhóm điều hành tạm thời, công khai thu chi và để mỗi làng cử một đại diện.

Những người muốn bán đất không rời cuộc họp. Họ yêu cầu được tham gia để biết mình đang từ bỏ điều gì.

Sau cuộc họp, người dân không ra về theo cùng một nhóm. Một số người đứng quanh bảng đền bù, tính khoản tiền có thể nhận trên mặt sau vé cũ. Một số khác đi theo Mai tới kho, hỏi nếu ga tiếp tục thì họ phải góp bao nhiêu. Có người nói họ không có tiền nhưng có thể góp công. Có người nói họ đã góp quá nhiều cho những dự án hứa hẹn rồi.

Mai không yêu cầu ai ký ủng hộ. Cô chia tờ giấy thành hai phần: “điều kiện để giữ ga” và “điều kiện để bán đất”. Người muốn bán ghi họ cần khoản đền bù được trả theo đợt nào, nhà mới ở đâu, đường đi học của trẻ ra sao. Người muốn giữ ghi lịch tàu tối thiểu, phí hàng, bảo trì cầu và quỹ dự phòng. Nhiều yêu cầu trùng nhau: họ đều cần đường đi, bệnh viện và tiền được trả đúng hạn.

Khoa ngồi lại sau cùng. Anh nói bảng đền bù của dự án chưa tính chi phí mất thời gian đi lại trong giai đoạn xây dựng. Một người hỏi anh có thể bổ sung không. Anh nói được, nhưng phải đàm phán với chủ đầu tư. Bà Lý bảo đó là lý do người dân cần có mặt trước khi hồ sơ chốt, không phải sau khi cọc đã đóng.

Tùng vẽ lịch tàu lên bảng, giải thích nếu giữ hai chuyến mỗi ngày, cần mức hành khách và hàng hóa tối thiểu. Một cô giáo hỏi có thể có chuyến sáng sớm vào ngày thi không. Tùng nói đổi lịch ảnh hưởng ga trung chuyển, nhưng nếu có dữ liệu lịch thi, anh có thể đề xuất trước. Vy lập biểu mẫu lấy lịch thi của các trường, hỏi rõ chỉ thu ngày và giờ, không thu thông tin học sinh.

Bà Lý mở hộp tiền quán. Bà nói quán có thể đóng góp một phần lợi nhuận mỗi chuyến, nhưng phải có giới hạn để bà còn trả tiền hàng. Mai viết “đóng góp không bắt buộc, có trần theo tháng”. Một người cười rằng lập quỹ mà sợ người dân góp nhiều quá. Bà Lý đáp không ai nên phải chứng minh lòng tốt bằng việc làm mình kiệt sức.

Ông Sáu Vận chỉ vào phần cầu. “Nếu không dành tiền cho dầm, mọi bảng doanh thu chỉ là giấy.” Lâm gửi báo cáo sơ bộ, nói chi phí thay hai dầm phải tính theo giai đoạn. Mai hỏi có thể sửa từng mối nối không. Anh trả lời có thể giảm tải tạm, nhưng không nên kéo dài quá một mùa mưa.

Cuộc họp tiếp theo được tổ chức ở bốn làng, mỗi nơi một buổi. Mai không đi một mình. Tùng nói vận hành, Vy nói dữ liệu, Khoa nói phương án dự án và bà Lý nói tiền quỹ. Ở làng Mỏ Dài, một người đàn ông hỏi Khoa có phải anh đã mua trước đất của ai không. Khoa công khai danh sách giao dịch sơ bộ, che thông tin cá nhân không cần thiết. Không phải ai cũng tin, nhưng họ có thứ để kiểm tra.

Ở làng Bản Cạn, người dân không muốn lập quỹ vì trước đây một quỹ đường bị thất thoát. Mai đề nghị hai chữ ký và bảng thu chi treo công khai. Họ yêu cầu thêm người kiểm tra không thuộc nhóm điều hành. Mai đồng ý. Cô hiểu minh bạch không thể chỉ do người đang được tin tự tuyên bố.

Ở làng Nà Dốc, một bà mẹ nói nếu ga đóng, con bà có thể ở nhà khi mưa vì xe máy không đi được. Khoa hỏi có thể mở lớp nội trú trong dự án không. Bà đáp con bà cần đi học mỗi ngày, không cần một lời hứa sau này. Khoa ghi lại, không phản ứng phòng thủ.

Ở làng Đá Trắng, những người muốn bán đất yêu cầu Mai nói rõ cô được thừa kế gì. Cô công khai bản đồ hành lang ray, phần đất có thể bán và phần không thể chuyển quyền. Có người hỏi nếu cô bán thì tiền chia cho dân không. Mai nói quyền thừa kế không tự biến thành quỹ chung, nhưng cô có thể đề xuất dùng một phần tiền cho ga nếu cộng đồng chấp thuận và có hợp đồng riêng.

Tối, nhóm tổng hợp bốn biên bản. Không có con số nào đủ để kết luận. Nhưng họ thấy một việc rõ: cộng đồng không muốn bị đẩy vào lựa chọn “bán hoặc nghèo”, còn công ty cũng không thể giữ tuyến bằng cách bỏ qua chi phí. Tùng đề xuất thử một mô hình vé kết hợp, nơi hàng hóa trả theo cân và một phần thiếu được bù bởi quỹ dịch vụ công.

Mai hỏi ai quyết định mức bù. Bà Lý nói phải dựa trên báo cáo tháng, không phải cảm xúc cuối ngày. Vy thêm phải có ngưỡng dừng nếu quỹ giảm dưới mức an toàn. Khoa hỏi liệu khu nghỉ dưỡng có thể tài trợ một phần mà không đổi lấy quyền điều hành. Mai bảo đưa đề xuất bằng văn bản.

Tờ kế hoạch đầu tiên của “Tuyến Ba Mươi Ngày” được viết ngay trên bàn quán cơm. Nó không có khẩu hiệu. Nó có lịch, cân, chữ ký, trần chi phí, người dự phòng, cách khiếu nại và một dòng để trống cho điều chưa biết. Những người muốn bán đất không ký giữ ga, nhưng họ ký rằng họ sẽ đọc báo cáo trước khi bỏ phiếu.

Mai đem bản kế hoạch tới từng hộ không dự họp. Có người không đọc được chữ nhỏ, cô đọc lại và hỏi họ muốn sửa câu nào. Một ông cụ bảo “trần chi phí” nghe như chuyện của người giàu. Bà Lý giải thích đó là giới hạn để quỹ không bị rút hết sau một chuyến. Ông cụ đề nghị ghi bằng số tiền và ví dụ, không dùng thuật ngữ.

Vy sửa bảng thành hai dòng: “quỹ được chi tối đa bao nhiêu trong một tháng” và “khi chạm mức đó, ai phải gọi cuộc họp”. Mai thích bản sửa hơn. Một quy tắc chỉ có ích khi người không chuyên cũng biết lúc nào nó được kích hoạt.

Khoa mang tới bản dự toán hỗ trợ chuyển đổi nghề. Một số người muốn dùng khoản đó để mở kho chung cạnh ga, không muốn học nghề du lịch. Khoa nói dự án có thể điều chỉnh, nhưng chủ đầu tư cần thấy nhu cầu. Mai đề nghị khảo sát không dẫn dắt, hỏi người dân muốn gì trước khi đưa danh sách lựa chọn.

Cuộc khảo sát có cả “không muốn tham gia dự án”. Một nhân viên hỏi sao phải có mục ấy. Mai nói quyền từ chối cũng là dữ liệu, nếu không ghi sẽ tưởng ai không chọn là đồng ý. Khoa gật đầu, yêu cầu đội phát triển dùng biểu mẫu mới.

Ở một làng, người dân cãi nhau về việc quỹ có nên hỗ trợ vé bệnh nhân. Một người sợ quỹ cạn, một người nói bệnh nhân không thể chờ phân tích lợi nhuận. Bà Lý đề nghị tách quỹ dịch vụ công và quỹ vận hành, mỗi quỹ có mức tối đa. Mai ghi thêm cơ chế xin hỗ trợ khẩn, do bệnh viện xác nhận nhưng không lưu chẩn đoán.

Tùng lo thủ tục sẽ làm người bệnh ngại xin. Mai nói vì vậy phải có người trực giải thích, không bắt họ tự đọc mười trang. Một điều dưỡng tình nguyện nhận việc. Cô chỉ nhận thông tin chuyến, số người và thời gian, không nhận bản bệnh án.

Cuối ngày, nhóm tổng hợp biên bản và phát hiện những người muốn bán đất cũng đang sử dụng ga để gửi hàng. Điều này không khiến họ mâu thuẫn; nó chỉ cho thấy lợi ích không nằm gọn ở một bên. Mai viết lên bảng: “Không gắn một người với một lập trường mãi mãi.”

Tối, bà Lý hỏi Mai có sợ nếu bỏ phiếu cuối cùng cộng đồng chọn bán không. Mai nói có, vì cô đã bỏ công. Bà Lý bảo công sức không mua được quyền bắt người khác sống theo lựa chọn của mình. Mai ghi câu ấy bên cạnh trần chi phí, như một giới hạn khác.

Mai gấp biên bản. Cô biết một nhóm điều hành không thể biến bất đồng thành đồng thuận trong một đêm. Nhưng ít nhất từ hôm đó, mỗi bên đều ngồi trong cùng một căn phòng trước khi quyết định căn phòng còn được dùng vào việc gì.

Cô gửi bản biên bản cho cả những người đã rời cuộc họp, để không ai chỉ nghe kết luận qua lời kể.

Bà Lý nhận bản đầu tiên.

Đã sao chép liên kết chương