Người Thừa Kế Của Nhà Ga Nhỏ
8 phút đọc

Chương 9

Chương 9

Ngày chuyến hàng thử chạy, chín mươi sọt chè được đưa đến ga trước giờ tàu. Quy định mới yêu cầu mỗi sọt có mã truy xuất, nhưng người dân chỉ có giấy mua bán viết tay.

Tùng gọi Mai. Nếu từ chối, hàng sẽ hỏng; nếu nhận, anh có thể bị phạt vì sai quy trình.

Mai mời cán bộ khuyến nông địa phương đến xác nhận nguồn hàng. Vy dùng điện thoại chụp từng phiếu, còn bà Lý chia số sọt theo từng hộ để tránh nhầm.

Đoàn tàu đến trễ. Một số người muốn thuê xe tải, nhưng ông Sáu Vận nói cầu đang bị hạn chế tải, xe cũng không thể đi nhanh hơn.

Khoa xuất hiện với hai xe tải của khu nghỉ dưỡng, đề nghị chở miễn phí. Mai hỏi xe sẽ đi theo đường nào. Khoa nói đường tắt qua khu dự án.

Nếu nhận, người dân sẽ kịp giao hàng nhưng có thể bị coi là đã đồng ý với dự án. Mai từ chối xe tải, chấp nhận rủi ro chuyến tàu.

Tùng bực vì cô không chọn giải pháp nhanh. Mai nói nếu họ cần giữ tuyến, phải chứng minh tuyến tự vận hành được, không dựa vào lòng tốt của bên mua đất.

Tàu tới, hàng được xếp trong hai toa cuối. Trọng lượng nằm dưới giới hạn; mã truy xuất được ghi bổ sung trong sổ ga.

Khi qua cầu, tiếng rung lớn hơn thường lệ. Tàu giảm tốc, nhưng không dừng. Dưới thung lũng, những luống chè lùi dần sau cửa kính.

Chuyến hàng đến huyện an toàn. Người mua trả thêm phí vì hàng đến đúng ngày chợ.

Mai ghi doanh thu thực, chi phí nhân công và thời gian chậm. Con số không đẹp, nhưng lần đầu nó thuộc về ga Đá Trắng.

Sau khi tàu rời huyện, Mai không về ngay. Cô cùng Tùng ngồi ở kho hàng, kiểm lại từng mã trên phiếu nhận. Một sọt chè bị ghi nhầm hộ, hai thùng mận thiếu chữ ký người nhận và một bao phân bón đã đi nhờ cùng chuyến nhưng chưa ai thu phí. Những lỗi nhỏ nối nhau thành một khoản không nhỏ.

Tùng lấy tiền túi định bù khoản phân bón. Mai ngăn lại.

“Nếu anh bù, bảng sẽ đẹp hơn nhưng không biết lỗi ở đâu.”

“Nếu để nợ, ngày mai người ta bảo ga làm việc cẩu thả.”

“Vậy ghi nợ và ghi nguyên nhân.”

Họ lập biên bản điều chỉnh. Hộ gửi phân bón trả ở chuyến sau, còn người bốc dỡ nhận phần phí đã bỏ sót. Không ai bị phạt tiền, nhưng ai cũng phải ký. Tùng nói trước đây ông nội thường tự sửa những khoản như vậy, vì ông không muốn người dân chờ thủ tục. Mai hiểu lý do, nhưng cũng thấy cách đó khiến hệ thống không học được gì.

Bà Lý đem tới một chiếc cân lò xo cũ. Bà bảo cân của quán chính xác hơn cân điện tử ở kho vì cân điện tử hay hết pin. Vy kiểm tra cả hai, phát hiện cân điện tử lệch ba trăm gram ở tải lớn. Cô không vội nói cái nào đúng. Lâm được gọi tới kiểm tra và xác nhận cân lò xo cần chỉnh nhưng vẫn dùng được trong khoảng giới hạn.

Mai đề nghị mua cân mới. Long—một người trong nhóm điều hành tạm thời—tính chi phí, thấy quỹ chưa đủ. Khoa gửi báo giá thiết bị, nói dự án có thể cho mượn. Mai từ chối nhận hẳn, nhưng đồng ý mượn nếu thiết bị có biên bản, thời hạn và quyền kiểm tra. Khoa ký như một người cho mượn, không đặt logo lên kho.

Chuyến hàng đến huyện đúng ngày chợ, nhưng xe của người mua không đến đủ. Một phần chè phải chờ thêm. Hộ dân hỏi Mai có thể yêu cầu tàu quay lại không. Tùng giải thích không thể đổi lịch chỉ vì người mua trễ. Mai gọi người mua, tìm một kho tạm rồi thương lượng phí lưu. Hàng không mất, nhưng lợi nhuận của các hộ giảm.

Một người nói chuyến tàu chẳng tốt đẹp như họ tưởng. Mai đồng ý. Tuyến tàu không thể điều khiển thời tiết, người mua hay mọi rủi ro. Điều tuyến có thể làm là đưa hàng đến đúng điểm, đúng tải và ghi rõ phần nào xảy ra sau đó. Kết quả không hoàn hảo không có nghĩa phép thử thất bại; nó cho biết cần cải thiện ở đâu.

Khoa xem bảng doanh thu. Phí hàng hóa tăng, nhưng nhân công cũng tăng vì phải cân và ghi từng sọt. Anh hỏi nếu giảm bớt bước kiểm tra, chi phí sẽ thấp hơn. Tùng nói đó là bước giữ cho cầu không chịu quá tải. Mai thêm rằng một lỗi tải có thể khiến toàn tuyến dừng lâu hơn nhiều so với phí bốc dỡ.

Vy phát hiện chợ phiên cuối tuần có nhiều hàng hơn nhưng lịch tàu lại chạy ít. Em vẽ biểu đồ giờ, chỉ ra nếu tàu chạy sớm hơn bốn mươi phút, các hộ có thể giao hàng trước khi người mua rời chợ. Mai gửi đề xuất đổi giờ cho điều phối, kèm phương án không ảnh hưởng ga trung chuyển. Họ nhận được phản hồi rằng cần đánh giá thêm.

Ở ga, người dân bắt đầu tranh luận về việc chuyến hàng thử có phải bằng chứng tuyến “có lãi” không. Mai nói chưa. Một chuyến tốt không xóa được ba năm lỗ, một chuyến chậm không chứng minh tuyến vô dụng. Họ cần chuỗi dữ liệu đủ dài, phân bổ đúng và ghi chi phí toàn bộ.

Bà Lý nghe vậy, đặt lên bàn một cuốn sổ thu chi của quán. Bà chỉ ra những ngày doanh thu cao, những ngày phải bỏ bữa cơm cho người chờ tàu. Quán cũng không “có lãi” nếu tính toàn bộ giờ làm của bà, nhưng bà không dùng bảng đó để nói quán vô ích. Bà dùng nó để biết ngày nào cần gọi thêm người phụ.

Mai hỏi bà có sẵn sàng giữ quán nếu ga chỉ còn một chuyến mỗi ngày. Bà nói phải xem tiền thuê, hàng hóa và sức khỏe. “Đừng biến lòng trung thành thành khoản nợ đạo đức,” bà dặn. Mai ghi câu ấy vào sổ, thấy nó phù hợp với cả ga lẫn những người đang cân nhắc bán đất.

Đêm, công ty đường sắt gửi thư cảnh báo về việc nhận hàng ngoài khung quy trình. Kèm thư là thông báo chuyến thử có thể bị tạm dừng nếu ga tái phạm. Mai đọc, không xé. Cô trả lời bằng toàn bộ biên bản, kết quả cân, báo cáo cầu và tên người chịu trách nhiệm. Cô cũng chấp nhận phần sai: một số mã được bổ sung sau giờ xếp hàng.

Tùng hỏi cô có sợ công ty dùng phần nhận lỗi để đóng tuyến không. Mai nói có. Nhưng nếu giấu, họ sẽ không biết liệu tuyến có thể vận hành đúng hay không. Tùng nhìn cô, rồi tự ký vào mục “người đề xuất sửa quy trình”.

Chuyến hàng thử không đem đến một chiến thắng. Nó đem đến một danh sách dài hơn: cân, mã, giờ, cầu, kho, người mua và cách tính doanh thu. Mai đặt danh sách cạnh tờ di chúc. Điều kiện ba mươi ngày dường như không còn là trò thử thách của ông nội; nó là phép đo xem một cộng đồng có chịu nhìn cả phần khó khi vẫn muốn giữ một điều mình yêu hay không.

Ngày hôm sau, một hộ dân tới nhận lại hàng bị trả. Họ nói báo cáo của ga khiến người mua nghi ngờ chất lượng chè. Mai xem phiếu, thấy hàng không hỏng nhưng thời gian giao trễ hơn dự kiến. Cô không viết thư bảo đảm hàng tốt. Cô gọi người mua, giải thích nguyên nhân trễ và xin họ đánh giá lô hàng theo mẫu thử. Người mua đồng ý giảm giá, không hủy toàn bộ.

Hộ dân hỏi Mai có thể bù phần giảm không. Cô nói quỹ không bù rủi ro thương mại, nhưng có thể lập quỹ bảo hiểm thử nếu nhiều hộ cùng đóng góp và có quy tắc. Bà Lý nhắc đừng tạo thêm một khoản quỹ khi quỹ hiện tại chưa đủ. Mai ghi ý tưởng vào mục sau ba mươi ngày, không dùng nó để xoa dịu người đang thiệt.

Tùng kiểm lại biểu đồ tải và phát hiện một lỗi đơn vị: một bảng ghi kilogram, bảng khác ghi tạ. Chưa có chuyến nào vượt giới hạn vì người bốc dỡ dùng cân thực, nhưng nếu chỉ đọc bảng thì có thể hiểu sai. Mai yêu cầu sửa tất cả file, ghi lịch sử thay đổi và gửi bản mới cho các hộ đã nhận. Một người nói chẳng ai đọc số lẻ. Mai đáp người quyết định tải phải đọc.

Vy đề nghị dán hướng dẫn bằng hình, không chỉ chữ. Em vẽ một sọt mẫu, một cân và ba dấu kiểm. Tùng sửa hình vị trí buộc dây. Bà Lý thêm hình nhãn rách. Tờ hướng dẫn mới không đẹp, nhưng người lớn tuổi nhìn một lần là hiểu phần nào cần làm trước khi tới ga.

Khoa tới xem chuyến phối hợp xe và tàu. Một hộ dùng xe dự án, một hộ dùng tàu, cả hai hàng tới huyện chênh nhau mười phút. Khoa hỏi liệu việc đó có chứng minh xe tốt hơn không. Mai nói không; hai lô khác nhau, thời tiết khác nhau và người mua khác nhau. Cô yêu cầu anh không đưa kết quả lên tài liệu quảng cáo.

Anh đồng ý, rồi hỏi dự án có thể góp tiền thuê kho tạm không. Bà Lý nói nếu góp, phải ghi rõ kho phục vụ cả hàng không thuộc dự án. Khoa ký điều khoản đó. Một người bán đất thấy vậy nói ít nhất lời hứa đã có chữ ký, nhưng vẫn muốn xem tiền được chuyển. Mai bảo sẽ dán sao kê đã che thông tin tài khoản.

Công ty đường sắt gửi cảnh báo thứ hai, lần này yêu cầu ga không tự ý nhận hàng ngoài khung giờ. Mai trả lời họ đã nhận thông báo về việc đổi giờ quá muộn, nên đề nghị một kênh báo lỗi. Công ty đồng ý thử một nhóm liên lạc chung, có nhân viên điều phối, trưởng tàu và đại diện quỹ. Tùng bảo nhóm chat không thay thế biên bản. Mai ghi rõ nó chỉ dùng cảnh báo nhanh, mọi quyết định vẫn phải lập hồ sơ.

Buổi tối, Mai xếp các phiếu theo màu: hàng đã giao, hàng trả, hàng chuyển xe, hàng chờ. Cô không xếp theo “thành công” hay “thất bại”. Trong một ngăn, cô để các câu hỏi của người dân chưa trả lời. Chúng nhiều hơn số chuyến tàu, nhưng chính chúng cho biết bản báo cáo đang thiếu phần nào.

Đã sao chép liên kết chương