Người Thừa Kế Của Nhà Ga Nhỏ
8 phút đọc

Chương 6

Chương 6

Chuyến tàu chiều bị trễ mười bảy phút vì phải xếp thêm những sọt chè và thùng mận. Tùng chia hàng theo trọng lượng, còn bà Lý phát cơm cho hành khách chờ.

Một nhân viên điều phối gọi điện trách Mai tự ý nhận hàng. Mai mở sổ, chỉ vào điều khoản cho phép ga xử lý hàng nông sản trong giới hạn tải.

“Điều khoản đó không áp dụng khi ga đang trong thời gian đóng thử,” người điều phối nói.

“Văn bản nào nói như vậy?”

Đầu dây bên kia im lặng, rồi yêu cầu cô gửi bản scan. Mai gửi ngay, kèm dữ liệu vé của Vy.

Đoàn tàu rời ga khi trời đã chuyển lạnh. Tùng đứng ở cửa cuối, nhìn những sọt hàng được buộc chặt. Anh bảo nếu nhận hàng đúng lịch, doanh thu ga có thể tăng nhưng công ty sẽ phải tính cả chi phí nhân công.

“Tôi tưởng anh muốn giữ ga bằng mọi giá.”

“Tôi muốn giữ nó mà không nói dối về giá phải trả.”

Mai ghi câu đó vào sổ. Trong thời gian ở thành phố, cô từng làm những bản thiết kế đẹp nhưng bỏ qua chi phí bảo trì. Ông nội từng gọi đó là xây nhà chỉ bằng mặt tiền.

Hôm sau, công ty gửi văn bản cảnh báo: nếu ga tự ý thay đổi quy trình, chuyến thử có thể bị dừng.

Khoa dùng cảnh báo ấy để nói với người dân rằng tuyến tàu không còn an toàn. Mai không phản bác trước đám đông. Cô yêu cầu cuộc kiểm tra độc lập về tải trọng cầu và hàng hóa.

Ông Sáu Vận nhận lời dẫn đoàn. Ông mang theo thước đo, búa kiểm tra và cuốn sổ cũ đã sờn mép.

“Đường ray không sợ người hỏi,” ông nói. “Nó chỉ sợ người không hỏi.”

Mai mời một kỹ sư kết cấu độc lập từ huyện lên cùng đoàn. Người kỹ sư tên Lâm, từng kiểm tra cầu đường bộ, chưa từng làm báo cáo cho tuyến đường sắt này. Anh yêu cầu mọi người không đứng trên dầm khi tàu chạy và không tự chạm vào bu lông đã đánh dấu.

Khoa cũng đến, lần này không mang bản đề nghị mua đất. Anh nói công ty cần biết rủi ro nếu tuyến bị hạn chế tải vì hồ sơ dự án có đường mới băng qua thung lũng. Mai hỏi anh có quyền xem dữ liệu kiểm tra không. Khoa trả lời chỉ khi nhóm đồng ý. Mai đồng ý với điều kiện bản sao được gửi cho tất cả đại diện làng và không được dùng để quảng bá trước khi có kết luận.

Họ bắt đầu ở đầu cầu phía ga. Lâm đo khoảng cách giữa các dầm, kiểm tra lớp sơn và lấy mẫu rỉ ở một mối nối. Ông Sáu ghi vị trí bằng cách đối chiếu cột cây bên bờ suối. Tùng đứng bên tín hiệu, quan sát thời tiết. Mai không hiểu hết thuật ngữ, nhưng cô hỏi mỗi phép đo trả lời câu hỏi nào và giới hạn ở đâu.

Lâm giải thích tiếng gõ đục ở dầm phía đông có thể do lớp sơn dày, cũng có thể do kim loại bị ăn mòn bên trong. Không thể kết luận bằng tai. Cần siêu âm hoặc tháo kiểm tra. Ông Sáu lẩm bẩm rằng trước đây người ta thường nghe tiếng cầu để biết cầu có “khỏe” không. Lâm không phủ nhận kinh nghiệm, chỉ nói kinh nghiệm phải dẫn tới phép kiểm tra phù hợp.

Đoàn tàu thử chạy qua với tải khách bình thường. Lâm đặt cảm biến rung ở bốn điểm. Khi tàu qua, Mai đứng cách lan can một khoảng an toàn, cảm thấy tiếng kim loại truyền vào lòng bàn chân. Không có tiếng nổ hay rung bất thường, nhưng cảm biến ghi một đỉnh dao động ở mối nối đông.

“Ngưỡng bao nhiêu là nguy hiểm?” Mai hỏi.

“Không có một con số chung. Còn phụ thuộc tuổi cầu, tải lặp, nhiệt độ và dạng mối nối. Tôi sẽ so với hồ sơ thiết kế.”

Khoa nhìn bảng đo. “Nếu chỉ tăng tốc độ chậm hơn thì sao?”

Tùng đáp tàu đã chạy dưới tốc độ cho phép. Giảm thêm có thể làm lịch đến huyện mất kết nối với chuyến xe bệnh viện. Một giải pháp kỹ thuật luôn chạm vào một giải pháp đời sống khác.

Buổi chiều, Mai nhận cảnh báo của phòng điều phối về chuyến nhận hàng hôm qua. Họ cho rằng ga tự ý vượt quy trình vì đã nhận những sọt chè không có mã truy xuất đầy đủ. Mai mở biên bản, chỉ ra cán bộ khuyến nông đã xác nhận nguồn hàng và nhóm đã bổ sung mã trước khi xếp. Người điều phối nói cảnh báo vẫn giữ nguyên vì không có quyền xóa.

“Vậy xin ghi chú phản hồi của ga ngay dưới cảnh báo,” Mai nói.

“Hệ thống không có cột đó.”

Mai gửi công văn yêu cầu tạo cột. Cô biết việc có thể mất nhiều tuần, nhưng nếu không yêu cầu, mỗi cảnh báo sẽ đứng một mình như sự thật duy nhất.

Khoa đưa cho cô một bản dự toán sửa cầu do dự án thuê tư vấn. Dự toán ghi thay hai dầm, xử lý rỉ và sửa lan can, chi phí cao hơn khoản hỗ trợ mua đất ban đầu. Mai hỏi vì sao anh vẫn gửi.

“Vì nếu chúng tôi cần đường mới, chúng tôi phải biết đường cũ đang chịu gì. Tôi không thể trình lên hội đồng một dự án nói cầu an toàn chỉ vì muốn nó biến mất.”

Mai nhìn anh, lần đầu thấy Khoa không chỉ là người đứng ở phía bên kia cọc đỏ. Anh vẫn muốn khu nghỉ dưỡng, nhưng anh có khả năng chịu đựng một con số làm phương án của mình xấu đi.

Tối, nhóm họp ở quán cơm. Lâm trình bày hai phương án: kiểm tra không phá hủy để chạy tàu khách, hoặc dừng tải hàng cho tới khi thay dầm. Hàng chè trong vùng đang vào mùa. Bà Lý hỏi có thể vận chuyển hàng bằng xe nhỏ qua đoạn cầu cũ không. Ông Sáu nói xe nhẹ được, nhưng đường ven suối hẹp và có chỗ lở.

Mai không chọn ngay. Cô yêu cầu chia rủi ro thành ba mức, ghi người có quyền dừng chuyến và cách thông báo cho người dân. Tùng phản đối vì quá nhiều giấy. Mai nói giấy không làm cầu chắc hơn, nhưng nó ngăn một người tự chịu quyết định trong im lặng.

Đêm đó, ông Sáu Vận đưa Mai về ga. Ông kể lần đầu ông làm trên tuyến, cầu được xây sau một mùa lũ lớn. Người thợ không có máy đo hiện đại, nhưng mỗi mối nối đều có tên người lắp và ngày kiểm tra. Sau này hồ sơ chuyển sang máy tính, những cái tên biến mất, còn các ô “hoàn thành” vẫn được tích.

Mai hỏi ông có tin công nghệ không. Ông bảo tin, miễn người dùng công nghệ vẫn chịu đứng dưới cầu khi phải giải thích.

Mai mở sổ mới, chia trang thành “số đo”, “người thực hiện”, “điều kiện” và “quyết định”. Cô ghi phép đo đầu tiên của Lâm, thêm câu “chưa đủ kết luận”. Khi đóng sổ, cô nghe tàu đêm chạy qua. Tiếng rung không còn là một lời cảnh báo mơ hồ. Nó đã có vị trí, thời gian và người chịu trách nhiệm kiểm tra tiếp.

Trước khi về, Lâm nhắc phải lấy thêm mẫu ở phía dưới dầm khi mực nước suối hạ. Mai ghi lịch và người phụ trách. Một người bán đất đứng gần đó hỏi nếu cầu không đạt thì mọi người còn giữ ga để làm gì. Mai đáp ga không chỉ là cây cầu, nhưng không thể giữ ga bằng cách giả vờ cầu không quan trọng. Người kia không nói thêm, chỉ nhìn bản đồ rồi lấy điện thoại chụp số của Lâm để tự hỏi sau.

Mai mời Lâm ký vào bảng công việc, rồi gửi bản sao cho phòng đường sắt. Cô muốn mọi cảnh báo đi cùng một việc tiếp theo, không nằm lại như những dòng chữ đã bị quên trong sổ cũ.

Chiều muộn, cô cùng Lâm kiểm tra đường thoát nước trên cầu. Mương bị lá chè và đất lấp một đoạn, khiến nước đọng sát chân dầm. Lâm nói việc nạo vét không thay thế sửa kết cấu, nhưng nếu bỏ mặc, nước sẽ làm rỉ nhanh hơn. Mai ghi đây là việc bảo trì của ga, không phải bằng chứng cầu an toàn. Bà Lý gọi hai người dân tới hỗ trợ, họ mang cuốc và làm trong một giờ. Tất cả ký vào biên bản vật tư, kể cả việc không nhận tiền công trong lần này.

Một người hỏi nếu quỹ sau này có tiền thì họ có được trả lại không. Bà Lý nói ghi rõ giờ công, cuối tháng sẽ tính vào phần đóng góp hoặc trả theo mức đã thống nhất. Không ai bị ép phải làm miễn phí để chứng minh muốn giữ ga. Mai thêm quy tắc ấy vào dự thảo, nhận ra một chiếc cầu có thể được bảo vệ cả bằng thép lẫn sự công bằng trong việc phân chia sức lao động.

Trước khi khóa cổng, cô nhận email công ty yêu cầu nộp bản báo cáo cầu trong vòng hai ngày. Thời hạn ngắn hơn khả năng lấy mẫu. Mai trả lời bằng lịch từng bước, ghi phần nào là sơ bộ, phần nào chờ kết quả và đề nghị không dùng bản sơ bộ làm căn cứ đóng tuyến. Lâm đọc thư, bảo đây là lần đầu một người không phải kỹ sư viết rõ giới hạn kỹ thuật mà anh thấy dễ kiểm tra đến vậy.

Mai gửi lại bản đó cho tất cả đại diện, kèm chú thích phần nào vẫn chờ kết quả mẫu.

Ông Sáu đọc, rồi ký vào ô đã nhận tài liệu.

Mai gọi thêm cho phòng bảo trì, hỏi họ có thể xác nhận lịch lấy mẫu hay không. Người trực nói chưa có lịch, nhưng sẽ ghi yêu cầu. Mai xin mã yêu cầu, rồi thêm vào bảng. Cô không muốn một cuộc gọi biến mất trong câu “đã tiếp nhận”.

Lâm trả lời rằng anh sẽ gửi lịch lấy mẫu trước trưa. Mai chụp lại email, lưu cùng hồ sơ cầu và đánh dấu người chịu trách nhiệm. Cô không còn coi một mã yêu cầu là câu trả lời, nhưng nó là dấu vết để biết ai cần hỏi tiếp.

Đã sao chép liên kết chương