Chương 7
Chương 7
Ông Sáu Vận gõ từng dầm cầu sắt bằng búa nhỏ. Âm thanh ở dầm phía đông đục hơn phần còn lại. Ông đánh dấu bằng phấn, không kết luận ngay.
Mai hỏi lần bảo trì gần nhất. Ông mở sổ: ba năm trước, đội sửa chữa thay biển cảnh báo và sơn lại lan can. Dòng “kiểm tra dầm chịu lực” để trống.
Tùng gọi kỹ thuật viên từ tỉnh. Người này đo độ rung khi tàu chạy qua, rồi nói cầu vẫn trong ngưỡng nhưng không nên tăng tải.
Khoa đứng bên kia lan can, chụp ảnh. Anh nói khu nghỉ dưỡng sẽ xây một cây cầu mới cho xe du lịch. Mai hỏi tại sao không dùng ngân sách đó sửa cầu đường sắt.
“Vì cầu xe giúp dự án sinh lời. Cầu tàu không.”
Đó là câu trả lời thẳng thắn nhất Khoa từng nói. Mai không giận. Cô chỉ nhận ra hai người đang dùng hai cách đo giá trị khác nhau.
Ông Sáu tìm thấy một phiếu vật tư bị kẹp trong sổ. Dầm thay thế đã được mua, nhưng không có biên bản lắp đặt. Số vật tư trùng với mã trên một công trình ở dưới huyện.
Mai yêu cầu công ty đường sắt giải trình. Họ trả lời phiếu vật tư thuộc hồ sơ cũ, không đủ căn cứ.
Tùng nói nếu cầu bị hạn chế tải, tàu vẫn chở khách nhưng không chở được nông sản. Mai nhìn những sọt chè đang chờ bên sân ga.
“Một tuyến tàu chỉ chở người thì chưa chắc sống được,” cô nói.
“Một tuyến chỉ chở hàng cũng không phải của người dân,” Tùng đáp.
Họ quyết định tổ chức chuyến thử có giới hạn, công khai trọng lượng hàng, để mọi bên nhìn thấy điều gì thật sự cần sửa.
Chuyến thử được đặt tên là “ngày hàng chè”, nhưng Mai không cho phép dùng tên đó trên áp phích quảng cáo. Nó phải là một phép thử vận hành, không phải lễ hội. Vy lập biểu mẫu đăng ký gồm tên hộ, loại hàng, số thùng, trọng lượng, ga nhận và người chịu trách nhiệm. Bà Lý thêm một cột “có cần trả hàng không” vì có hộ từng bị người mua hủy đơn phút cuối.
Tùng viết quy trình bốc hàng lên bảng. Mỗi sọt phải cân hai lần, chênh lệch quá một ký thì cân lại. Hàng được đặt theo thứ tự dỡ, không theo thứ tự người đến. Người dân phản đối vì hộ tới sớm có thể bị xếp sau. Tùng giải thích nếu dỡ sai thứ tự, cả toa phải mở giữa đường, rủi ro lớn hơn. Mai yêu cầu anh ghi lý do dưới quy định, không chỉ ghi “theo quy trình”.
Khoa mời một chuyên gia logistics của dự án tới quan sát. Người này nói xe tải của khu nghỉ dưỡng có thể ghép hàng, giảm chi phí bốc dỡ. Mai hỏi nếu người dân dùng xe miễn phí, họ có phải ký cam kết mua đất hay cho phép sử dụng hình ảnh không. Khoa nói không, rồi yêu cầu chuyên gia ghi điều đó vào biên bản. Một số người vẫn nghi ngờ, nhưng ít nhất điều kiện không còn nằm trong lời nói riêng.
Lâm quay lại cầu với máy siêu âm. Kết quả cho thấy dầm phía đông có vùng ăn mòn sâu hơn dự đoán, nhưng chưa vượt ngưỡng dừng toàn bộ tàu khách. Ông Sáu nói không nên chờ tới khi vượt ngưỡng mới sửa. Công ty đường sắt đồng ý hạn chế tải hàng, yêu cầu chuyến thử chỉ chạy dưới một mức trọng lượng thấp hơn dự kiến.
Tin này làm các hộ chè thất vọng. Một người nói họ đã thuê người hái, không thể để hàng lại. Mai mời họ vào phòng chờ, cho xem bản báo cáo và hỏi ai có thể chia lô. Không phải mọi nhà đều đồng ý. Có hộ quyết định bán tại chỗ với giá thấp hơn. Có hộ giữ hàng chờ chuyến sau. Mai ghi cả những lựa chọn ấy, không trình bày rằng tuyến tàu đã giải quyết được tất cả.
Vy phát hiện mã ga trong hệ thống không nhận loại hàng “mận tươi”. Nếu chọn “trái cây khác”, phí tính theo mức cao hơn. Em gọi phòng hỗ trợ, được trả lời phải chọn mã gần nhất. Mai yêu cầu ghi rõ lỗi vào biên bản, còn Tùng viết tay tên hàng bên cạnh mã máy. Phần mềm không thể là lý do khiến người dân trả tiền cho một thứ họ không gửi.
Buổi tối, Khoa hỏi Mai có muốn anh dùng ảnh cầu để giải thích với ban dự án. Mai nói được nếu ảnh có chú thích ngày, vị trí, điều kiện và không cắt người dân khỏi bối cảnh. Khoa hỏi cô có bao giờ mệt vì phải kiểm tra mọi thứ không. Mai trả lời có, nhưng mệt vì kiểm tra ít hơn mệt vì sửa hậu quả.
Anh nói trước đây anh từng nghĩ nhà ga là một công trình lỗi thời. Sau khi xem bảng đăng ký hàng, anh nhận ra ga giống một chợ nhỏ: người ta trao đổi không chỉ hàng hóa mà cả thời gian, tin tức và trách nhiệm. Mai bảo cách nhìn đó hay nhưng chưa trả được chi phí. Khoa cười, nói cô luôn kéo anh về bảng tính.
Ngày trước chuyến thử, đoàn kiểm tra họp ở sân ga. Một nhân viên tỉnh yêu cầu không công khai trọng lượng từng hộ vì đó là thông tin kinh doanh. Bà Lý phản đối, nói nếu không công khai tổng tải thì người dân không biết vì sao mình bị từ chối. Hai bên thống nhất công khai tổng theo chuyến, còn chi tiết từng hộ chỉ người gửi và thủ quỹ được xem.
Mai ghi nguyên tắc vào biên bản. Cô biết minh bạch không đồng nghĩa với phơi tất cả. Một cộng đồng bền không phải nơi ai cũng biết hết chuyện của ai, mà là nơi không ai bị buộc phải tin một con số không có lời giải thích.
Đêm, Tùng kiểm tra toa hàng. Anh phát hiện một chốt cửa bị mòn, thay bằng chốt dự phòng và ghi mã vật tư. Mai hỏi sao trước đây anh không ghi mỗi lần thay. Tùng nói quen tay, nghĩ ai cũng biết. Mai bảo nếu anh bị ốm, người khác phải làm sao. Tùng nhìn quyển sổ, thừa nhận tuyến đã phụ thuộc vào trí nhớ của một người quá lâu.
Ông Sáu Vận đứng bên đầu cầu, nhìn đèn ga. Ông nói chuyến thử không chỉ kiểm tra hàng có đi được hay không. Nó kiểm tra xem mọi người có dám để người khác nhìn thấy cách mình làm việc không.
Mai ký lịch, nhưng thêm một dòng: “Có quyền dừng nếu điều kiện thực tế khác báo cáo.” Chuyến tàu chưa chạy, mà cô đã biết ngày mai sẽ có ít nhất một quyết định không nằm trong kịch bản.
Sáng chuyến thử, sương xuống dày đến mức không nhìn thấy đầu cầu từ sân ga. Lâm yêu cầu lùi giờ mười lăm phút để kiểm tra tầm nhìn. Người dân phản đối vì đã thuê người hái chè từ sớm. Mai đứng giữa hai bên, không chọn theo tiếng nói lớn hơn. Cô hỏi Tùng điều kiện tối thiểu để chạy, hỏi Lâm điều kiện tối thiểu để kiểm tra và hỏi các hộ có thể giữ hàng bao lâu.
Tùng nói tàu có thể chạy nếu tín hiệu đèn rõ và người gác cầu ở vị trí. Lâm nói cần nhìn được mối nối phía đông trước khi quyết định. Các hộ nói thêm mười lăm phút không làm hỏng hàng, nhưng nếu trễ hơn một giờ thì người mua sẽ rời chợ. Mai ghi ba mốc vào bảng, thông báo mọi người và chờ tới khi đủ điều kiện đầu tiên.
Khoa đến cùng một kỹ thuật viên dự án. Anh không yêu cầu chen vào. Anh mang thêm đèn pin và áo mưa, hỏi có việc gì họ có thể làm ngoài vùng ray. Bà Lý giao cho đội anh dựng mái tạm cho hàng. Sự hỗ trợ này không thay thế kiểm định, nhưng giúp người dân bớt trả giá cho việc chờ an toàn.
Khi sương tan, Lâm phát hiện nước đọng trong một hốc bu lông. Ông Sáu nói hốc đó từng được trám, nhưng lớp trám đã nứt. Họ dừng chuyến, gọi đội bảo trì và chuyển một phần hàng sang phương án xe. Không ai vui. Một người nói mất cả ngày chỉ vì một hốc nước. Lâm đáp cầu không biết hôm nay là ngày chợ.
Mai viết lời giải thích lên bảng, kèm ảnh vị trí và thời gian dừng. Cô không dùng từ “sự cố” vì điều đó làm người đọc tưởng ngẫu nhiên. Đây là dấu hiệu cần xử lý. Bà Lý chia trà nóng cho người chờ, còn Vy gọi người mua báo trễ.
Đến trưa, mối nối được làm sạch và tạm che. Lâm cho phép chạy tải khách, chưa cho chạy đủ hàng. Các hộ phải chọn giữ lại, chia chuyến hoặc dùng xe. Một người bán đất chọn xe của dự án; một người phản đối dự án chọn chờ tàu. Cả hai vẫn nhận được cùng một thông báo và cùng phải ký.
Chuyến tàu chạy lúc hai giờ, không đạt mục tiêu ban đầu nhưng dữ liệu đầy đủ hơn. Mai ghi thời gian sương, thời điểm phát hiện nước, người quyết định dừng và chi phí chuyển tiếp. Tùng nói một chuyến thất bại trước mắt có thể cứu tuyến sau. Mai bảo chỉ khi họ không giấu phần thất bại.
Buổi tối, công ty yêu cầu giải thích vì sao ga tự ý dừng. Mai gửi biên bản của Lâm, ảnh và danh sách người chứng kiến. Cô thêm đề nghị công ty cập nhật cột “dừng vì an toàn” trong hệ thống. Một cảnh báo không thể được ghi như một lỗi vận hành nếu chính việc dừng mới là hành vi đúng.
Mai lưu biên bản vào thư mục chung, rồi dán mã hồ sơ lên bảng nhà chờ. Người dân có thể tra cứu tình trạng xử lý mà không cần hỏi riêng cô.
Tùng ghi thêm giờ cập nhật lên góc bảng.
Vy kiểm tra lại mã hồ sơ trước khi lưu ảnh.
Mai nhắc mọi người không gửi ảnh người dân đứng chờ nếu chưa hỏi. Bà Lý che mặt những người không đồng ý trước khi dán bản in lên bảng.