Chương 13
Chương 13
Khu nghỉ dưỡng gửi hồ sơ xin đổi hướng đường ray để mở cổng chính. Bản vẽ mới cho tuyến tàu đi vòng qua bãi đỗ, thêm bốn cây số và một trạm trung chuyển.
Khoa nói đường ray cũ nằm đúng khu đất đẹp nhất. Nếu chuyển, dự án vẫn giữ được ga mới và công ty có thể xây cầu vượt.
Mai hỏi ai trả chi phí vận hành bốn cây số thêm. Khoa nói sẽ đàm phán với công ty đường sắt.
Tùng chỉ ra tuyến mới có độ dốc cao, tàu hàng không thể đi đủ tải. Khoa yêu cầu báo cáo kỹ thuật, không chấp nhận ý kiến miệng.
Ông Sáu Vận lấy bản đồ địa hình. Ông nói người lập hồ sơ đã bỏ qua một đoạn taluy yếu. Nếu mưa lớn, đường ray mới sẽ cần gia cố liên tục.
Khoa không biết điều đó. Anh yêu cầu bên tư vấn chỉnh lại, nhưng hồ sơ đã được nộp.
Mai nhìn những cọc đỏ quanh ga. Nếu không phản đối, việc đổi hướng có thể được phê duyệt trước khi ba mươi ngày kết thúc.
Cô gửi ý kiến tới phòng đường sắt, kèm bản đồ độc lập của ông Sáu. Khoa nói cô đang chống dự án của anh.
“Tôi đang chống một bản vẽ không tính người dùng,” Mai đáp.
Khoa hỏi cô có thật sự muốn ở lại vùng này không. Mai nói cô chưa biết, nhưng biết mình không muốn quyết định bằng cách làm mất đường về của người khác.
Hồ sơ đổi hướng bị yêu cầu bổ sung đánh giá an toàn. Không phải thắng lợi, chỉ là thêm thời gian.
Thời gian thêm không làm ai yên tâm. Khu nghỉ dưỡng đã dựng một văn phòng lắp ghép ở bãi phía bắc, mỗi ngày có xe ra vào. Cọc đỏ được sơn lại, lần này có số thứ tự. Người dân đi qua nhìn thấy chúng và bắt đầu gọi khu đất bằng tên dự án, dù chưa có giấy phép cuối cùng.
Khoa gửi cho Mai hồ sơ đổi hướng đầy đủ. Anh nói làm vậy có thể khiến ban giám đốc không hài lòng, nhưng anh không muốn nhóm đọc bản tóm tắt do phòng truyền thông viết. Hồ sơ có ba phương án: giữ ray, dịch ray bốn trăm mét và chuyển ga xuống thung lũng. Mỗi phương án đều có chi phí, nhưng chỉ phương án giữ ray ghi rõ ảnh hưởng đến lịch hàng và bệnh nhân.
Mai mời Tùng, ông Sáu và Lâm xem bản vẽ. Họ phát hiện đường mới cắt qua một sườn đất mà hồ sơ địa chất chỉ khảo sát mùa khô. Lâm nói đất có thể ổn sáu tháng, nhưng không ai biết sau hai mùa mưa. Ông Sáu chỉ vào đường đồng mức, nói đoạn taluy yếu trùng với nơi ông từng phải đắp lại sau lũ.
Khoa gọi cho tư vấn và yêu cầu bổ sung khảo sát mùa mưa. Người tư vấn nói chưa cần vì dự án đang ở bước xin chủ trương. Khoa hỏi nếu chưa cần thì tại sao hồ sơ lại ghi “đủ điều kiện kỹ thuật sơ bộ”. Cuộc gọi kết thúc bằng lời hẹn gửi văn bản.
Mai không muốn biến Khoa thành người hùng trong hồ sơ của mình. Cô ghi nguồn tài liệu của anh, đồng thời gửi câu hỏi trực tiếp tới phòng đường sắt. Cô yêu cầu họ không chỉ đánh giá tuyến mới, mà phải so sánh chi phí của việc sửa cầu cũ. Nếu phương án đổi ray được duyệt vì rẻ hơn trên giấy nhưng tốn bảo trì hơn về sau, cộng đồng phải biết.
Một cuộc họp công khai được tổ chức ở sân ga. Đại diện dự án trình bày ảnh phối cảnh. Nhiều người thích con đường mới vì có đèn và vỉa hè. Một bà mẹ hỏi lối đó có mở quanh năm không. Đại diện trả lời sẽ cố gắng. Bà hỏi “cố gắng” có phải điều khoản không. Họ nói chưa.
Tùng trình bày lịch tàu. Nếu ray đổi hướng, chuyến hàng phải đi thêm bốn cây số, thời gian tăng hai mươi phút. Nếu dốc mới cao, tàu chỉ chở được một nửa số hàng. Người dân hỏi có thể ghép xe tải không. Khoa nói được, nhưng phải có đơn vị chịu trách nhiệm khi đường dự án đóng.
Vy chiếu biểu đồ những ngày đường bộ bị gián đoạn. Em không nói đường sắt luôn tốt hơn. Em chỉ cho thấy nếu có hai tuyến, rủi ro giảm; nếu một tuyến bị thay bằng lời hứa chưa ký, rủi ro chuyển sang người dân.
Một người muốn bán đất chỉ vào biểu đồ và hỏi bao giờ những con số ấy biến thành tiền. Vy trả lời không biến thành tiền ngay. Nhưng nếu không ghi, tiền có thể được hứa cho một nơi không tồn tại. Người đàn ông không đồng ý, nhưng không bỏ về.
Sau cuộc họp, Khoa nói anh không chắc dự án giữ nguyên phương án. Mai bảo anh không cần đứng về phía ga; chỉ cần đừng dùng quyền lực dự án để khiến câu hỏi biến mất. Khoa hỏi nếu cuối cùng cô bán phần đất phía bắc, cô có cho dự án mở đường không. Mai đáp có thể, nếu đường không cắt hành lang ray và hợp đồng ghi rõ trách nhiệm vận hành.
Phòng đường sắt gửi văn bản yêu cầu bổ sung đánh giá độc lập. Họ không nói hồ sơ sai, chỉ nói chưa đủ căn cứ. Mai coi đó là một khoảng thở. Cô cùng nhóm dùng thời gian để dựng bản đồ rủi ro, không chờ quyết định từ trên.
Lâm đánh dấu ba điểm sạt, hai đoạn cần thoát nước và một vị trí có thể làm trạm gom hàng nếu tuyến giữ nguyên. Khoa cho phép nhóm khảo sát trong phần đất dự án với điều kiện thông báo trước. Ông Sáu nhắc mọi người đeo áo phản quang và không đứng gần máy xúc.
Mai nhận ra tranh chấp không còn chỉ là giữ một nhà ga. Nó là cuộc thương lượng về không gian: đường ray, đường bộ, đất, nước và thời gian của người sử dụng. Một bản vẽ đẹp có thể cho thấy tất cả, nhưng chỉ một quy trình tốt mới quyết định ai được lên tiếng trước khi đường bắt đầu được đào.
Đêm, Mai viết vào thư mục “những điều chưa biết”: “Ai sẽ bảo trì tuyến mới sau năm thứ hai? Ai bù khi doanh thu thấp? Ai chịu trách nhiệm với người không dùng dịch vụ du lịch?” Cô không biết khi nào sẽ có câu trả lời. Nhưng câu hỏi đã nằm trên bàn, không còn trong phần lề bị cắt khỏi bản vẽ.
Ngày hôm sau, tư vấn dự án gửi bản bổ sung. Phần taluy yếu được đánh dấu vàng, nhưng giải pháp chỉ là trồng cây chống xói và đặt rãnh tạm. Lâm nói cây cần vài năm mới có tác dụng, còn rãnh tạm phải được duy tu sau mỗi trận mưa. Mai hỏi ai chịu trách nhiệm trong giai đoạn chưa có cây. Hồ sơ ghi “đơn vị quản lý”. Không có tên.
Khoa yêu cầu ghi tên pháp nhân và ngân sách. Đội tư vấn nói chi tiết đó thuộc hợp đồng thi công. Khoa trả lời nếu hồ sơ chưa biết ai quản lý, chưa thể gọi phương án đủ điều kiện. Anh chấp nhận bị phê bình vì làm chậm thủ tục.
Ở ga, người dân muốn xem bản vẽ nhưng không đọc được ký hiệu. Vy dựng mô hình bằng bìa cứng, dùng hạt đậu để biểu thị nước chảy. Khi nghiêng mô hình, hạt đậu dồn về đúng vùng taluy yếu. Một đứa trẻ hỏi sao không đặt đường ở chỗ khác. Không ai cười câu hỏi. Mai đánh dấu đề xuất trên bản đồ.
Ông Sáu Vận kể trước đây một dự án đường từng xây cống nhưng không có lối vệ sinh, sau hai mùa mưa bị nghẹt. Khoa xin ghi lời kể, ông đồng ý nhưng yêu cầu nêu rõ đó là kinh nghiệm địa phương, cần kiểm tra thêm. Một người trẻ hỏi dữ liệu dân gian có được coi trọng không. Lâm nói dữ liệu có nhiều dạng; quan trọng là biết nó trả lời được gì.
Phòng đường sắt gửi yêu cầu so sánh phương án giữ ray và đổi ray trong cùng mẫu. Mai thấy mẫu chỉ có chi phí xây dựng, không có chi phí chuyển giao hàng, mất thời gian đi học hay đào tạo nhân viên. Cô điền thêm phụ lục, ghi các cột không có trong mẫu và lý do. Công văn bị trả lại vì dùng mẫu ngoài. Mai gửi lại cả mẫu cũ lẫn phụ lục, yêu cầu họ chỉ rõ phần nào không tiếp nhận.
Khoa nói cô có thể bị coi là cố tình kéo dài. Mai bảo nếu một mẫu không cho phép ghi chi phí của người dùng, chính mẫu đó đang kéo dài quyết định bằng cách bỏ dữ liệu. Anh không cãi, chỉ xin một bản để đưa vào cuộc họp ban giám đốc.
Một nhóm thanh niên hỏi liệu dự án có tạo việc làm cho họ không. Khoa nói có thể, nhưng chưa thể hứa số lượng. Mai nhắc anh ghi điều kiện tuyển, thời hạn và mức lương nếu muốn đưa vào hồ sơ. Khoa gật, rồi hỏi Mai nếu cộng đồng chọn bán, cô có tham gia thiết kế ga mới không. Cô nói chỉ khi người dùng được tham gia từ đầu, không phải sau khi phối cảnh hoàn tất.
Cuối ngày, cọc đỏ quanh ga được tháo một nửa. Còn lại là cọc khảo sát có biển rõ. Sự khác nhau nhỏ làm người qua đường bớt hoang mang. Mai ghi ngày tháo, người thực hiện và lý do. Đất không đổi nhiều, nhưng ngôn ngữ trên đất đã chính xác hơn.
Vy chụp lại bản đồ sau khi tháo cọc, lưu cả trước và sau để tránh tranh cãi về vị trí.
Mai ghi số phiên bản bản đồ ở góc giấy.
Khoa xác nhận đã nhận bản mới.
Anh gửi lại một câu hỏi về mương thoát nước, chứng minh bản đồ không chỉ được cất trong thư mục mà đã được đọc.
Mai chuyển câu hỏi cho tư vấn, đặt thời hạn trả lời và ghi cả trường hợp chưa có câu trả lời vào biên bản cuộc họp kế tiếp. Không có bản vẽ nào được coi là hoàn tất chỉ vì nó đã được đóng dấu.