Chương 15
Chương 15
Hồ sơ bảo trì của Lớp Sạch không nằm trong một tủ. Nó nằm ở máy chủ của dự án, trong sổ ca giấy của đội kỹ thuật, trên thẻ nhớ các trạm và trong tin nhắn giữa những người từng thay van lúc không có phụ tùng. Huyên mất hai ngày để lập danh sách nơi cần xin, thêm một ngày để nhận ra mỗi nơi dùng một tên khác cho cùng một lần trục trặc.
“Van số 3 phản hồi chậm” trong sổ ca.
“Dao động lưu lượng ngắn” trong bảng cảm biến.
“Đầu phun không đều” trong phiếu hiện trường.
“Không ảnh hưởng mức trung bình” trong báo cáo tháng.
Bốn câu nói về cùng một đường ống, nhưng khi tách ra, không câu nào đủ làm người đọc dừng lại.
Huyên mời Tùng, Quỳnh và Vân đến phòng họp. Nghi tham gia qua điện thoại vì chợ đang nhận mẻ cá mới. An ngồi bên cửa, vẽ sơ đồ các trạm. Tư không đến, nhưng gửi một thẻ mô tả: “Một mùi bị gọi nhiều tên có thể làm nguy hiểm mất tên.”
Huyên chiếu bảng liên kết các hồ sơ. Cô không dùng màu đỏ. Cô dùng đường nối và ghi thời gian.
“Hộp hiệu chuẩn của trạm số 3 được thay muộn hai năm. Trong thời gian đó, trạm vẫn hoạt động. Không có bằng chứng nó luôn đo sai. Có bằng chứng nó không ghi đủ các đỉnh ngắn khi nghịch nhiệt.”
Quỳnh hỏi: “Ai biết việc thay muộn?”
Tùng trả lời: “Kho vật tư biết thiếu. Đội kỹ thuật biết chờ. Phòng tài chính biết chưa giải ngân. Trung tâm điều khiển biết trạng thái trung bình vẫn xanh.”
“Vậy không ai giấu?” Nghi hỏi qua loa.
“Không có một người giấu,” Huyên nói. “Có một hệ thống để thông tin bị chia.”
Nghi đáp: “Hệ thống không ký biên bản.”
Tùng nhìn xuống. “Có người ký thay cho hệ thống.”
Huyên đưa lên bản phụ lục. Tên Tùng nằm ở một dòng xác nhận nhận phụ tùng, nhưng chữ ký không nói anh biết yêu cầu bảy chu kỳ thử sau khi lắp. Tùng không phủ nhận.
“Tôi đã ký,” anh nói. “Tôi không đọc hết.”
Quỳnh hỏi: “Anh có nghĩ mình nên bị kỷ luật không?”
“Tôi nghĩ phải có quy trình để chữ ký không biến thành một cái gật đầu mù.”
Vân đặt lên bàn danh sách triệu chứng của công nhân. Một số người bắt đầu có biểu hiện trong những ca trùng với các đợt phun và nghịch nhiệt, nhưng phần lớn không. Cô không dùng điều đó để đổ lỗi. Cô đề nghị mọi hồ sơ bảo trì phải có một mục “tác động có thể lên hành vi an toàn”: liệu việc giảm mùi có làm người lao động tháo bảo hộ, làm giảm tần suất kiểm tra hay không.
Quỳnh nói mục đó thuộc an toàn lao động, không phải bảo trì.
“Một hệ thống thay đổi tín hiệu mà công nhân dùng để ra quyết định thì không thể chỉ thuộc kỹ thuật,” Vân đáp.
Huyên thêm: “Giống như hệ thống loa không chỉ thuộc âm thanh nếu nó phát cảnh báo.”
Cuộc họp kéo dài khi trời nóng. Điều hòa chạy nhưng mùi nhựa từ lớp cách nhiệt trong phòng hiện lên rất nhẹ. Huyên nhận ra trước mọi người, rồi tự hỏi cô có đang nhạy hơn vì câu chuyện hay không. Cô mở cửa sổ một chút, ghi lại thời gian và điều kiện. Không ai khác phản ứng.
“Cô đang đo cả phòng họp à?” Tùng hỏi.
“Tôi đang kiểm tra mình.”
“Cô không thể sống như máy đo.”
“Tôi biết. Nhưng tôi có thể ghi lúc mình không chắc.”
An chỉ lên bảng. “Chỗ này thiếu dữ liệu.”
Cậu khoanh khoảng giữa lịch phun và lịch triệu chứng. Không ai biết người dân ở khu đó có mở cửa, dùng quạt, hay rời nhà trong các đợt nghịch nhiệt. Vân đề nghị gọi phỏng vấn bổ sung, nhưng Huyên sợ hỏi lại sẽ tạo ra ký ức dẫn dắt.
“Hỏi theo thời gian, không hỏi họ nghĩ nguyên nhân gì,” Vân nói. “Hỏi lúc mấy giờ, ở đâu, đã làm gì.”
Tùng nói đội bảo trì có thể đưa dữ liệu van theo phút, nhưng phải thay hệ thống lưu trữ. Quỳnh hỏi chi phí. Tùng đưa con số và thời gian, không nói vòng.
“Nếu chờ ngân sách mới?”
“Ba tháng.”
“Nếu dùng thiết bị cũ?”
“Có thể ghi, nhưng không đồng bộ thời gian với máy cảm biến.”
Huyên hỏi: “Có phương án tạm không?”
Tùng chỉ An. “Ghi tay ở điểm thấp, đối chiếu đồng hồ cơ, như cậu ấy làm. Không đẹp, nhưng có dữ liệu.”
An nhún vai. “Em đã nói bản đồ không cần đẹp.”
Quỳnh phê duyệt ngay một nhóm ghi tay trong bốn tuần, kèm thù lao cho người trực. Nghi hỏi thù lao có áp dụng cho người bán chợ không. Quỳnh đồng ý nếu ghi theo mẫu và tham gia tập huấn.
Sau cuộc họp, Huyên gọi riêng Tùng. Cô đưa anh bản dự thảo có đoạn về chữ ký.
“Tôi ghi tên anh ở phần ai phát hiện và xử lý. Tôi không ghi anh chịu trách nhiệm cho toàn bộ hai năm.”
“Cảm ơn.”
“Đừng cảm ơn. Hãy đọc.”
Anh đọc từng dòng. “Ở đây ghi ‘đội bảo trì biết thiết bị tạm thời’. Có người trong đội không biết.”
Huyên sửa thành “một số thành viên nhận được thông tin ở các thời điểm khác nhau”.
Tùng nói: “Đừng làm câu quá mềm.”
“Tôi không làm mềm. Tôi làm chính xác.”
“Nếu người ta cần biết ai sai?”
“Ta ghi ai làm gì. Không ghi ai biết điều mà họ chưa được thông báo.”
Tùng suy nghĩ rồi ký vào bản sửa. Anh nói từ hôm nay đội bảo trì sẽ họp cuối ca, đọc phụ lục thành tiếng, và mọi chữ ký nhận phụ tùng phải kèm câu người ký đã được giải thích điều kiện sử dụng.
“Tốn thời gian,” anh nói.
“An toàn thường tốn thời gian.”
“Cô nói như áp phích.”
“Tôi đang cố nói như biên bản.”
Buổi tối, Huyên mở bản đồ theo phút. Một chuỗi điểm màu xuất hiện quanh trạm số 3, nhưng không có đường ranh rõ. Cô đặt cạnh đó các thẻ mô tả của Tư, bản đồ thở của An, nhật ký Nghi và dữ liệu khu bể lắng. Không có một lớp nào bao trùm mọi thứ.
Quỳnh gửi tin: “Ngày mai có phiên họp với thành phố. Họ muốn một kết luận ngắn.”
Huyên trả lời: “Tôi có thể cho một kết luận ngắn: chỉ số mùi thấp không đủ đại diện cho an toàn.”
Quỳnh hỏi: “Còn nguyên nhân?”
“Chưa xác định.”
“Họ sẽ không thích.”
“Tôi cũng không thích.”
Ở khu Nam Bến, Lớp Sạch chạy đúng lịch. Người dân mở cửa sổ, có người ho, có người không. Công nhân thay ca, đeo bảo hộ. Nghi dán bảng mới. Tư đóng kho. An tô lại vùng đỏ nhạt hơn vì tối nay cậu thở được.
Sự thật không trở nên dễ hơn khi một thiết bị hiệu chuẩn được thay. Nó chỉ chuyển từ nghi ngờ chung sang những câu hỏi cụ thể: ai được biết, ai có quyền sửa, ai ghi dấu hiệu, và ai chịu trách nhiệm khi một “tạm thời” sống lâu hơn cả người đã viết nó.
Huyên đọc hồ sơ một lần nữa vào sáng hôm sau, lần này cùng một người không thuộc trung tâm. Nghi đọc các đoạn liên quan đến chợ, Tùng đọc phần van, Vân đọc phần triệu chứng, còn An được giao chỉ ra những bản đồ có màu làm cậu hiểu sai. Mỗi người đánh dấu một kiểu thiếu.
Nghi nói bảng kỹ thuật dùng chữ “mùi nền” cho cả mùi bùn và mùi mắm. Tùng nói báo cáo tháng không hiện khoảng mất dữ liệu. Vân nói nhiều mẫu không ghi người lấy đang dùng thuốc gì. An nói bản đồ tổng hợp làm vùng trống thành màu xám, khiến người xem tưởng nơi đó bình thường.
Huyên không bảo vệ bản thảo. Cô lập danh sách chỉnh sửa, thêm cột ai yêu cầu và lý do. Một báo cáo có thể dài hơn nhưng dễ kiểm tra hơn.
Quỳnh hỏi có cần công khai bản cũ không. Tư, qua tin nhắn, trả lời: “Không cần xóa. Để người ta thấy câu chữ đã thay đổi vì sao.” Quỳnh đồng ý lưu phiên bản, nhưng gắn nhãn bản cũ không dùng để quyết định hiện tại.
Tùng đề xuất quy định mỗi “tạm thời” phải có người xem lại, ngày hết hạn và điều kiện kéo dài. Huyên thêm phải ghi lý do nếu chưa thể đóng. Quỳnh đưa đề xuất lên nhóm pháp chế. Họ báo quy định sẽ mất thời gian, nhưng có thể áp dụng ngay trong Lớp Sạch.
Buổi chiều, một phụ tùng mới đến trạm số 3. Tùng không vội lắp. Anh mời Lý, Nghi và một học sinh đến chứng kiến bảy chu kỳ thử. Mỗi chu kỳ có bảng lưu lượng, hướng phun, tiếng van và điều kiện thời tiết. Không ai trong nhóm hiểu hết kỹ thuật, nhưng ai cũng được phép hỏi dừng khi một bước chưa được giải thích.
Đến chu kỳ thứ sáu, lưu lượng vẫn đều. Chu kỳ thứ bảy xuất hiện một dao động nhỏ. Tùng không xóa. Anh tháo lại bộ nối, tìm thấy một gioăng chưa ép đúng. Sửa xong, hệ thống chạy lại. Huyên ghi: thiết bị mới không tự làm quy trình hoàn hảo; việc có người chứng kiến đã giúp phát hiện một lỗi trước khi đưa vào vận hành.
Đêm đó, An tô thêm một điểm lên bản đồ: trạm số 3 hoạt động lại có điều kiện. Cậu hỏi Huyên có thể gọi màu này là vàng không. Huyên nói được, nếu bảng giải thích vàng không phải “nguy hiểm” mà là “cần theo dõi”. Thành phố chưa giải quyết xong. Nhưng giờ những điều tạm thời đã có ngày, người và câu hỏi quay lại.
Tùng treo bản quy trình mới ngay cạnh tủ van. Dòng cuối yêu cầu người ca sau đọc lại bằng lời trước khi ký. Không ai biết quy tắc ấy có giữ được mãi không, nhưng ít nhất nó bắt đầu bằng một người phải nghe người trước nói mình đã làm gì. Huyên ghi thời gian, người chứng kiến và điều kiện vận hành vào hồ sơ rồi mới đóng máy.
Trước cửa trạm, Lý dán thêm lịch xem lại. Mỗi dòng có ngày hết hạn, người phụ trách và cách báo nếu chưa hoàn thành. Một điều tạm thời cuối cùng cũng có ngày để bị hỏi lại.