Thành Phố Không Có Mùi
9 phút đọc

Chương 17

Chương 17

Ba mươi phút sau khi van số 3 được khóa, câu hỏi lớn nhất của thành phố không phải ai đã làm nó kẹt. Câu hỏi là sáng mai Lớp Sạch sẽ bật lại hay không.

Phòng họp khẩn ở tầng một của ủy ban không có cửa sổ mở. Mùi cà phê nguội và nhựa từ máy chiếu lẫn vào nhau, nhưng không ai nói. Trên màn hình, hai phương án nằm cạnh nhau.

Phương án A: khôi phục phun toàn khu ở mức nền, giữ danh hiệu và giảm mùi cống quay lại.

Phương án B: tắt toàn bộ cho đến khi kiểm tra xong, chấp nhận mùi tăng và nguy cơ người dân hoảng.

Không phương án nào có chữ “an toàn tuyệt đối”.

Quỳnh đứng trước bảng. Bà đã thay áo công sở bằng áo bảo hộ nhưng chưa kịp cởi giày dính bùn. Huyên, Tùng, Vân, Nghi và đại diện khu dân cư ngồi quanh bàn. An tham gia qua màn hình từ quầy radio của cha. Tư không dự họp trực tuyến; ông gửi một tấm ảnh chiếc lọ không khí trống đặt cạnh bản đồ thành phố.

“Tôi đề nghị không dùng hai phương án này như hai cực duy nhất,” Huyên nói.

Một cán bộ thành phố cau mày. “Chúng ta cần quyết định bật hay tắt.”

“Chúng ta cần quyết định cụm nào, trong điều kiện nào, với thông báo nào và điểm dừng nào.”

Tùng mở bản đồ van. Trạm số 3 bị cô lập. Các trạm phía bắc hoạt động ổn định, nhưng dữ liệu của chúng không đại diện cho khu Nam Bến. Trạm số 7 có hộp hiệu chuẩn cũ, trạm số 2 nằm gần khu trường học. Nếu bật toàn khu, thành phố có thể giảm mùi nhưng lặp lại tình trạng không biết lớp thấp. Nếu tắt toàn bộ, mùi từ các bể xử lý có thể quay lại ở những nơi Lớp Sạch thực sự đang giúp dân cư.

“Mỗi vùng có một giá phải trả,” Vân nói. “Đừng để người ở vùng được hệ thống giúp phải chịu thay cho vùng bị che tín hiệu.”

Đại diện khu dân cư hỏi: “Nếu chỉ bật một số trạm, ai quyết định vùng nào đáng được bảo vệ?”

Nghi đặt tay lên bàn. “Đừng gọi đó là bảo vệ. Chỗ nào bật thì phải nói rõ đang làm gì. Chỗ nào tắt thì phải có cách khác để người ta biết mùi quay lại.”

Quỳnh ghi hai câu. Huyên đề nghị thêm kênh cảnh báo đa giác quan: bảng điện tử, loa, tin nhắn, đèn ở nhà văn hóa, và nhóm gõ cửa cho hộ có người già hoặc bệnh hô hấp. Không kênh nào thay thế tất cả.

“Kinh phí?” cán bộ hỏi.

“Tạm dùng quỹ ứng phó môi trường,” Quỳnh đáp.

“Quỹ đó dành cho sự cố lớn.”

Huyên nói: “Một hệ thống không biết mình đang phân bố thế nào cũng là sự cố vận hành, dù chưa có nhiều người nhập viện.”

Không ai vỗ tay. Câu nói được ghi vào biên bản.

Tùng trình bày kế hoạch kỹ thuật. Tắt trạm 3 và 2. Giữ trạm 7 ở mức thủ công sau khi có người quan sát. Mở cửa xả của khu xử lý nước theo thời gian đã kiểm tra, không phun để che mùi. Đặt máy di động ở độ cao 1,5 mét tại bốn điểm. Mỗi chu kỳ cập nhật mười lăm phút.

“Ai trực?”

“Đội bảo trì chia ca. Nhưng cần người dân ghi dấu hiệu tại chỗ.”

Nghi nói chợ có thể ghi mùi, nhưng phải trả công. Vân nói trạm y tế có thể tổng hợp triệu chứng, nhưng không gửi tên. An nói nhóm học sinh có thể vẽ hướng gió, nhưng không ra ngoài nếu có dấu hiệu nặng.

Một số người ngạc nhiên khi cậu được hỏi ý kiến. An không nói hay hơn người lớn. Cậu nói mình biết đường nào có thể đi bộ mà không phải dừng thở. Kiến thức ấy không có trong bản đồ hành chính.

Quỳnh quyết định: tắt cụm 2 và 3, giữ các trạm còn lại ở mức nền có giám sát, không tự tăng liều. Mỗi thông báo ghi rõ trạm nào đang hoạt động và vì sao. Không khôi phục danh hiệu cho đến khi hoàn tất kiểm tra.

“Tôi sẽ ký,” bà nói. “Nhưng nhóm đánh giá phải công khai bản cập nhật, kể cả khi không có kết quả đẹp.”

Huyên hỏi: “Ai duyệt câu chữ?”

“Nhóm kỹ thuật, y tế, cảm quan và đại diện khu dân cư cùng duyệt.”

“Nếu không thống nhất?”

Quỳnh nhìn bảng. “Ghi các ý kiến khác nhau.”

Cuộc họp kết thúc lúc 03 giờ 10. Không ai ngủ. Họ chia thành các đội. Tùng xuống kiểm tra van số 3 lần nữa, Huyên đến nhà văn hóa, Vân ở trạm y tế, Nghi về chợ, còn An đóng cửa quầy radio nhưng vẫn giữ bộ đàm bên cạnh.

Tại nhà văn hóa, Huyên viết thông báo đầu tiên bằng chữ lớn. Cô không dùng “tạm thời bình thường”. Cô viết:

“Một số trạm trung hòa mùi đang tạm dừng để kiểm tra sau sự cố van. Mùi tự nhiên và mùi xử lý có thể rõ hơn. Hãy làm theo hướng dẫn về cửa, thuốc và thời điểm cập nhật. Nếu không ngửi thấy gì nhưng khó thở, vẫn gọi trạm y tế.”

Nghi đọc, sửa “mùi tự nhiên” thành “mùi từ môi trường và hoạt động sản xuất”.

“Mùi tự nhiên nghe như mọi thứ trở lại đều vô hại,” bà nói.

Huyên sửa. Vân thêm số điện thoại. Tùng thêm khu vực không đi vào. An gửi biểu tượng chiếc mũi gạch chéo và hình bàn tay đặt lên ngực.

Không ai viết một câu khiến mọi người hoàn toàn yên tâm. Nhưng người đọc biết phải làm gì.

Sáng, mùi cống quay lại ở khu Nam Bến. Một số cư dân gọi đó là thất bại của thành phố. Một số người khác mở cửa sổ, nhận ra mùi đang từ phía bể xử lý và đóng cửa hướng đó. Nghi gửi cho chợ một bảng phân biệt: mùi cá tươi, mùi lên men, mùi cống, mùi chất tẩy. Bà không tuyên bố mọi người có thể tự chẩn đoán. Bà chỉ nói mùi có thể giúp định hướng nếu được đặt cạnh hướng gió và hướng dẫn.

Ở trường, hiệu trưởng cho học sinh học trong phòng phía đông. An ở nhà, nhưng gửi bản đồ qua nhóm. Một học sinh khác nhận trực thay cậu, ghi màu theo hướng dẫn. Hệ thống không sụp vì một người không ra ngoài.

Tùng và Lộc đặt máy di động ở bốn điểm. Một máy bị trẻ con chạm vào, dữ liệu lệch. Họ ghi sự kiện, không xóa. Một máy mất pin, người trực đi bộ thay. Một máy cho số cao hơn trạm mái. Huyên yêu cầu giữ cả hai.

Đến trưa, Quỳnh bị gọi lên họp với thành phố. Một quan chức nói việc công khai mùi quay lại đang làm giá trị bất động sản ven sông giảm. Quỳnh đáp rằng điều đó không thể là lý do giấu điều kiện môi trường. Người kia hỏi nếu người dân hoảng loạn thì ai chịu trách nhiệm.

“Tôi,” Quỳnh nói. “Vì tôi đã ký kế hoạch thông báo.”

“Cô có muốn từ chức không?”

“Từ chức không sửa được van.”

Huyên nghe bản ghi này sau đó. Cô không biết Quỳnh có nói vì can đảm hay vì không còn cách nào khác. Có lẽ cả hai.

Buổi chiều, kiểm tra sơ bộ cho thấy van số 3 cần thay bộ trộn, không phải chỉ thay hộp hiệu chuẩn. Một phần phụ tùng phải đặt từ tỉnh khác. Lớp Sạch không thể trở lại như cũ trong vài ngày.

Tùng đề nghị giữ chế độ tắt ở khu chợ và trường, nhưng cho phép phun có người quan sát ở bể xử lý khi hướng gió phù hợp. Nghi hỏi người quan sát có được vào giờ ăn không. Tùng nói sẽ lập lịch riêng. Vân yêu cầu mọi người được trang bị bảo hộ.

Huyên nhìn bảng. Đây không phải sự trở lại của hệ thống. Nó là một hệ thống mới, nhỏ hơn, chậm hơn và buộc phải thừa nhận điều kiện.

Đêm thứ hai sau sự cố, không có ai bị nhập viện. Có nhiều phàn nàn hơn, vì mùi quay lại. Nhưng các phàn nàn được phân loại: mùi khó chịu, triệu chứng, sự cố máy, nhu cầu hỗ trợ. Người dân không còn bị yêu cầu chọn một từ chung.

An nhắn Huyên: “Nếu thành phố phải giữ mùi để cảnh báo, sau này có thể lại muốn khử hết khi dân phàn nàn.”

Huyên trả lời: “Vì vậy phải ghi cả lúc hệ thống giúp.”

An: “Để không biến mùi thành kẻ thù?”

“Để mọi quyết định sau này có đủ hai phía.”

Huyên đi qua nhà văn hóa lúc 23 giờ. Bảng thông báo có thêm một dòng do ai đó viết bằng bút đỏ: “Nếu mùi khó chịu nhưng hướng dẫn không rõ, gọi số này. Phàn nàn cũng là dữ liệu.”

Không ai biết ai viết. Huyên giữ nguyên.

Trong một thành phố đã quen với các con số xanh, sự cố van số 3 không đưa ra một người để đổ lỗi. Nó buộc nhiều người nhìn vào phần việc của mình: người thiết kế, người bảo trì, người quản lý, người đo, người bán hàng, người sống dưới tháp phun và người đã quá lâu bị bảo rằng cơ thể mình chỉ là cảm giác.

Lớp Sạch chưa bị xóa. Nhưng từ đêm ấy, nó không còn được phép hoạt động như một tấm màn vô hình.

Sáng hôm sau, nhóm dựng một bảng ở cổng trạm số 3. Trên đó không có quảng cáo, chỉ có bốn dòng: trạm đang tắt, lý do, khu vực có thể có mùi trở lại và thời điểm cập nhật. Một người đi đường hỏi vì sao phải ghi cả điều máy chưa làm được.

Tùng trả lời: “Vì máy chưa làm được vẫn ảnh hưởng đến cách người ta quyết định.”

Quỳnh yêu cầu bảng được chụp và đưa lên cổng dữ liệu. Huyên kiểm tra câu chữ, Nghi sửa cách gọi khu chợ, Vân thêm số điện thoại trạm y tế. Một bảng thông báo trở thành sản phẩm của nhiều nghề, không còn là câu chữ do phòng truyền thông viết một mình.

Đội ghi tay chia ca. An không phải người duy nhất vẽ nữa; hai học sinh khác học cách ghi gió, một bác bảo vệ ghi tiếng bơm, người bán hàng ghi mùi theo từng giờ. Có người ghi sai, rồi tự đánh dấu sai. Huyên nói dấu sai quan trọng vì nó cho biết phương pháp cần dạy lại.

Buổi chiều, thành phố gửi thông báo tạm dừng danh hiệu “không còn mùi hôi”. Một số người cười trên mạng, một số người lo giá nhà giảm. Quỳnh không phản hồi từng bình luận. Bà chỉ công bố nhật ký sự cố và lịch sửa, rồi tham dự cuộc họp với công nhân.

Một công nhân hỏi nếu hệ thống chạy lại, ai đảm bảo không lặp lỗi.

Quỳnh nói không ai đảm bảo bằng một câu. Vì vậy quy trình mới có ba lớp: máy tự kiểm, người trực kiểm, cộng đồng được xem và hỏi. Không lớp nào được miễn vì lớp khác có vẻ hiện đại hơn.

Huyên ghi đề xuất này vào hồ sơ. Cô thấy nó chưa hoàn hảo, nhưng có một ưu điểm: nó làm cho sự tin cậy trở thành việc phải thực hiện liên tục, không phải một danh hiệu trao xong rồi cất đi.

Đã sao chép liên kết chương