Chương 19
Chương 19
Phiên họp về quyền được phàn nàn diễn ra ở hội trường cũ của rạp chiếu phim, nơi sân khấu thấp đến mức người ngồi cuối vẫn nhìn thấy giày của người phát biểu. Thành phố không gọi đó là điều trần. Trên giấy, nó là “tham vấn điều chỉnh chương trình trung hòa mùi”. Nghi đọc tên, bảo chữ tham vấn thường được dùng để làm một cuộc tranh luận nghe nhỏ hơn.
Huyên mang theo sáu hộp tài liệu. Hộp thứ nhất là dữ liệu trạm theo phút. Hộp thứ hai là nhật ký bảo trì. Hộp thứ ba là bản đồ thở và triệu chứng ẩn danh. Hộp thứ tư là kho mùi của Tư. Hộp thứ năm là phản ánh chợ. Hộp thứ sáu là các bản ghi chưa đủ để kết luận.
“Hộp cuối quan trọng nhất,” Tư nói trước khi không vào hội trường.
“Vì sao?” Huyên hỏi.
“Vì nếu họ chỉ xem năm hộp kia, họ sẽ tưởng mình đã biết đủ.”
Quỳnh ngồi ở bàn chủ trì, không ngồi giữa trung tâm mà ngồi lệch sang bên để nhường màn hình. Tùng và Vân ở hai phía. Đại diện công nhân ngồi cùng hàng với cư dân, không có vách ngăn. An tham gia trực tiếp, trước mặt là bản đồ nhiều lớp.
Quỳnh mở đầu bằng một câu không có số liệu: “Lớp Sạch đã giúp một số khu vực, gây ra những điểm mù ở một số điều kiện và từng được trình bày quá gọn. Hôm nay chúng ta quyết định cách sửa, không viết lại quá khứ.”
Một người đại diện thành phố hỏi tại sao không gọi hệ thống là thành công có điều kiện. Nghi đáp từ ghế dưới: “Gọi gì cũng được nếu bảng điều kiện nằm ngay cạnh chữ thành công.”
Huyên trình bày phần phương pháp. Cô chiếu một bản đồ mà không có màu tổng hợp. Mỗi lớp có một nút bật tắt. Khi bật lớp cảm biến, vùng trạm hiện lên. Khi bật lớp mùi được nhận biết, các điểm rải không đều. Khi bật lớp triệu chứng, có cụm ở khu Nam Bến và một dải theo đường xe tải. Khi bật lịch phun, một số điểm trùng, một số không.
“Không lớp nào một mình đủ để kết luận,” Huyên nói. “Nhưng xếp chồng giúp chúng ta biết nơi nào cần đo thêm và nơi nào cần hướng dẫn ngay.”
Một chuyên gia hỏi: “Nếu dữ liệu chủ quan không đại diện toàn dân, tại sao đưa lên bản đồ?”
Huyên trả lời: “Dữ liệu máy cũng không đại diện mọi độ cao, mọi cửa sổ, mọi cơ thể. Vấn đề không phải chọn một loại là đại diện tuyệt đối. Vấn đề là công khai phạm vi của từng loại.”
Vân trình bày nhật ký sức khỏe. Cô đọc cả số người không có triệu chứng. Một số người trong hội trường thất vọng vì bảng không tạo ra quan hệ nhân quả rõ. Vân nói đó là điều kiện để tránh biến bệnh nhân thành bằng chứng.
“Tôi không thể nói Lớp Sạch gây ra mọi cơn hen. Tôi có thể nói có những khoảng thời gian triệu chứng tăng, hệ thống thay đổi chế độ và lớp khí thấp biến động. Ba điều ấy cần được theo dõi cùng nhau.”
Một công nhân đứng lên. Anh nói trong ca đêm, khi mùi giảm, nhiều người tháo mặt nạ vì nghĩ không còn cần. Anh không muốn nhà máy bị đóng cửa, vì đó là sinh kế. Anh muốn quy trình không phụ thuộc vào việc người lao động đoán mùi.
Lý tiếp lời, nói chương trình huấn luyện mới đã giúp công nhân biết kiểm tra nhiệt, áp suất và đồng đội. Nhưng thời gian đào tạo phải được tính vào ca, không đặt lên vai người lao động.
Quỳnh hỏi đại diện nhà máy có đồng ý không. Người đó nói cần ngân sách và thời gian. Tùng đáp: “Chi phí đào tạo thấp hơn chi phí khi một người không biết mình đang hít gì.”
Nghi trình bày bảng mùi chợ. Bà không xin xóa quy định vệ sinh. Bà yêu cầu tách ba việc: an toàn thực phẩm, khó chịu cộng đồng và tín hiệu môi trường.
“Một lọ mắm có thể làm người này khó chịu mà vẫn an toàn. Một khu vực không có mùi có thể vẫn cần kiểm tra. Nếu các anh dùng một chữ để giải quyết ba việc, người bán và người mua đều thua.”
An lên sân khấu. Cậu không phát biểu dài. Cậu cho xem bản đồ của mình, trong đó vùng đỏ không phải nơi nguy hiểm tuyệt đối mà là nơi cơ thể cậu thường phản ứng. Cậu nói không muốn thành phố tin cậu hơn máy. Cậu muốn máy và người lớn đừng xóa cậu chỉ vì cậu không cung cấp được tên chất.
“Em cần thành phố làm gì?” chủ tọa hỏi.
“Cho em quyền báo triệu chứng mà không bị hỏi đã ngửi thấy gì. Và thông báo phải có hình cho người đang khó thở không đọc nổi câu dài.”
Không ai phản đối. Có người ghi chép rất nhanh.
Tư được mời phát biểu qua đoạn ghi hình vì ông không muốn đứng trước đông người. Hình ảnh kho mùi hiện trên màn hình. Ông nói về người mất khứu giác, về lọ không khí trống, về việc không có mùi không phải trạng thái chung cho mọi cơ thể.
“Nếu thành phố đưa tôi vào hội đồng chỉ để chứng minh mình bao quát, tôi sẽ rút. Nếu đưa tôi vào để hỏi cách thiết kế thông báo cho người không ngửi thấy, tôi sẽ tham gia.”
Quỳnh hỏi ông muốn quyền gì trong quy chế.
“Quyền xem dữ liệu thô ở dạng tiếp cận được. Quyền góp ý về biểu tượng. Quyền nói không khi lời kể bị dùng sai ngữ cảnh.”
Đến phần Huyên, một đại biểu hỏi cô có thừa nhận mình từng góp phần làm dữ liệu bị thiếu không.
“Có.”
“Vậy tại sao thành phố nên tin quy trình cô đề xuất?”
“Không nên tin chỉ vì tôi đề xuất. Hãy thiết kế quy trình để có người khác kiểm tra, để sai sót được ghi, và để người dân có quyền xem phần đã bị loại cùng lý do loại.”
“Cô muốn mọi bản nháp đều công khai?”
“Không. Tôi muốn bản quyết định cuối cùng ghi dữ liệu nào đã không dùng và vì sao. Không phải mọi suy nghĩ riêng đều là hồ sơ. Nhưng mọi loại trừ có ảnh hưởng đến an toàn phải có lý do.”
Một chuyên gia hỏi nếu công khai quá nhiều dữ liệu chưa kiểm chứng sẽ tạo tin giả. Huyên nói nhãn dữ liệu và hướng dẫn đọc phải đi cùng bản ghi. Xóa không phải cách duy nhất chống hiểu nhầm.
Quỳnh trình bày đề xuất cuối cùng:
- Tách chỉ số mùi khó chịu khỏi chỉ số an toàn môi trường.
- Công khai lịch phun thực tế, trạng thái cảm biến, điều kiện thời tiết và các khoảng mất dữ liệu.
- Không cho Lớp Sạch tự động tăng liều ở khu trường học, chợ và khu dân cư khi chưa có kiểm tra phân bố thấp.
- Lắp cảm biến theo phút và ở nhiều độ cao; duy trì đội quan sát thủ công có trả công.
- Lập Hội đồng Cảm Quan Cộng Đồng gồm cư dân, công nhân, người bán thực phẩm, bác sĩ, người mất khứu giác và chuyên gia kỹ thuật.
- Công nhận nhật ký mùi và triệu chứng là dữ liệu dân sự để yêu cầu điều tra, nhưng không dùng chúng một mình để kết luận chất độc.
- Cấm dùng câu “không có mùi” như chứng nhận an toàn.
Thành phố chưa đồng ý ngay tất cả. Một số điều cần sửa luật, một số cần ngân sách, một số bị phản đối vì sợ trách nhiệm. Nhưng không ai còn đề nghị quay lại con số 0 lớn trên màn hình.
Khi bỏ phiếu tạm thời, kết quả là sáu mục được thông qua, hai mục chuyển thí điểm, một mục cần xin ý kiến thêm. Huyên không thấy vui kiểu thắng cuộc. Cô thấy một mạng lưới trách nhiệm vừa được đặt xuống, và mạng lưới ấy có thể vướng vào nhiều người.
Sau phiên họp, Tùng hỏi cô có thấy thành phố đã hiểu chưa.
“Chưa đủ.”
“Cô lại nói chưa đủ.”
“Nhưng lần này có quy chế để làm tiếp.”
Nghi nghe thấy, bảo: “Một phần cũng là một cái nắp. Miễn là đừng đậy kín.”
An gập bản đồ. Cậu hỏi có thể giữ màu đỏ ở vùng triệu chứng không.
Huyên nói: “Có. Nhưng ghi rõ màu đỏ của em nghĩa là cơ thể em đã phản ứng, không phải thành phố đã kết tội một nguồn.”
“Vậy em giữ.”
Đêm đó, bảng ven sông đổi nội dung. Không còn câu “không còn mùi hôi”. Dòng mới hiện chậm hơn, dài hơn:
“Sông Sậy đang thử nghiệm cách nhận biết môi trường bằng nhiều nguồn. Khi không ngửi thấy gì nhưng có triệu chứng, hãy báo.”
Thành phố chưa có quyền được ngửi trong luật. Nhưng người dân vừa giành được quyền không bị coi là vô lý khi nói cơ thể họ đã biết một điều trước màn hình.
Sau phiên họp, nhóm thư ký phát hành một bản giải thích dài mười trang và một bản tóm tắt bằng hình. An kiểm tra bản hình, chỉ ra biểu tượng “theo dõi” giống biểu tượng “đã an toàn” ở kích thước nhỏ. Họ đổi hình, thử lại với người lớn tuổi và một công nhân không đọc tốt. Bản mới ít đẹp hơn, nhưng không bị hiểu lầm.
Nghi yêu cầu bảng quyền phàn nàn đặt ngay cạnh bảng lịch phun. Người bán không phải đi qua ba phòng để báo mùi lạ. Tùng lập số riêng cho sự cố kỹ thuật. Vân lập số riêng cho triệu chứng. Huyên lập một mẫu chung để người dân không phải tự gọi đúng tên nguyên nhân.
Một tuần sau, một người dân báo mùi ngọt ở khu chưa có trạm. Hệ thống không có dữ liệu. Nhóm không nói người đó tưởng tượng. Họ cử người đến, lấy mẫu và phát hiện mùi sơn mới từ công trình. Không nguy hiểm, nhưng cũng không phải không có gì. Người báo được gửi kết quả, kể cả phần chưa chắc.
Quỳnh nói đó là bài kiểm tra đầu tiên của quyền được phàn nàn. Không phải mọi phản ánh đều thành sự cố, nhưng mọi phản ánh phải có nơi nhận và câu trả lời.
Huyên lưu biên bản, rồi xếp nó cạnh tờ giấy trắng ban đầu. Cô nhận ra cả hai đều không chứa mùi. Một cái khởi đầu cho câu hỏi, một cái chứng minh câu hỏi đã đi qua hệ thống mà không bị biến thành tiếng ồn.