Chuyến Xe Cuối Tuyến 08
11 phút đọc

Chương 2

Năm cái tên bị xóa sổ

Huy về đến căn phòng trọ chật hẹp của mình ở một con hẻm sâu gần chợ Thủ Đức lúc hơn nửa đêm. Căn phòng mười hai mét vuông ngổn ngang sách báo, hồ sơ tài liệu và vỏ cà phê lon. Anh không bật đèn lớn, chỉ thắp chiếc đèn bàn nhỏ màu vàng ấm, đủ để soi sáng góc làm việc chật hẹp nhưng quen thuộc.

Anh cẩn thận đặt cuốn sổ tay da cừu nâu đất lên mặt bàn, ngồi đối diện với nó một hồi lâu như thể đang nhìn một thứ sinh vật có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Rồi, anh nhẹ nhàng giở lại từng trang từ đầu, lần này chậm rãi hơn, kỹ lưỡng hơn.

Năm cái tên. Năm nghề nghiệp, năm địa chỉ, năm mốc thời gian. Và bên cạnh mỗi tên là một chữ X đỏ chói.

Huy lấy tờ giấy trắng, bắt đầu sao chép từng dòng theo thứ tự, vừa chép vừa phân tích.

**Nguyễn Văn Hùng** – Thợ mộc tự do, sáu mươi mốt tuổi theo ước tính từ địa chỉ khu tạm cư. Biến mất ngày 2 tháng 9, lúc 23h45. Khu tạm cư Lô 4 – từ kinh nghiệm làm báo, Huy nhận ra đây là khu nhà tạm của những công nhân nghèo di dân từ các tỉnh miền Tây lên, thường tập trung xung quanh các công trình xây dựng lớn ở vùng ven.

**Trần Thị Lan** – Bán hủ tiếu gõ, phụ nữ, địa điểm gần chân cầu vượt Linh Trung. Biến mất ngày 15 tháng 9, lúc 23h30. Dân bán rong đêm không bao giờ tự dưng bỏ nghề. Họ bám lấy từng đồng bạc lẻ. Biến mất không lời giải thích là điều bất thường tuyệt đối với những người như vậy.

**Lê Hữu Phát** – Xe ôm truyền thống, khu vực ngã ba Đại Nam. Biến mất ngày 5 tháng 10. Ngã ba Đại Nam – tên gọi này gợi lên sự liên tưởng đến Tập đoàn Địa ốc Đại Nam, một trong những đại gia bất động sản quyền lực nhất đang có nhiều dự án phủ rộng khu vực Thủ Đức.

**Võ Văn Bốn** – Thợ hồ tự do, lán trại số 7. Biến mất ngày 18 tháng 10. Lán trại – từ này chứng minh rõ ràng ông này sống ngay trong khu vực thi công của một công trình nào đó, như nhiều thợ xây dựng nghèo thường làm.

**Đinh Trọng Quý** – Kỹ sư đo đạc nghỉ việc. Biến mất ngày 1 tháng 11. Đây là cái tên khác biệt nhất trong danh sách. Những người kia đều là lao động phổ thông, tay nghề thấp. Còn đây là một kỹ sư. Một người có trình độ chuyên môn. Và đặc biệt, ghi chú là "nghỉ việc", không phải "thất nghiệp". Điều này gợi ý rằng anh ta đã rời bỏ một công việc – có thể là tự nguyện, có thể là bị buộc phải rời – trước khi mất tích.

Huy gõ nhẹ bút bi vào mặt bàn, nhìn chằm chằm vào tờ giấy. Năm con người thuộc hoàn cảnh khác nhau, tuổi tác khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, nhưng có hai điểm chung rõ ràng: họ đều thuộc tầng lớp lao động chân tay bình dân, lao động tự do và không có hệ thống bảo hộ xã hội nào. Và họ đều mất tích trong khoảng thời gian đêm muộn, từ 23h30 đến 23h45 – đúng cái khung giờ chuyến xe cuối tuyến 08 lăn bánh.

Anh mở máy tính xách tay, gõ từ khóa tìm kiếm đầu tiên: "Nguyễn Văn Hùng mất tích Thủ Đức 2025".

Kết quả trả về gần như trống rỗng. Không có một bài báo nào, không có một tin đăng báo mất người nào, không có một dòng tin tức nào đề cập đến một công nhân mộc tên Nguyễn Văn Hùng biến mất ở khu vực Thủ Đức vào đầu tháng 9.

Huy thử với cái tên thứ hai. Rồi thứ ba, thứ tư, thứ năm. Kết quả đồng nhất, đáng sợ như nhau: im lặng tuyệt đối. Năm cái tên, năm cuộc biến mất – và không ai trên mạng internet mênh mông này biết đến, hoặc thèm ghi chép lại. Họ bị xóa sổ khỏi thế giới mà không để lại một dấu vết nào.

Điều đó không có nghĩa là không có ai trình báo mất người. Có thể đã có, nhưng ở những đồn công an địa phương nhỏ lẻ vùng ven, những đơn trình báo như vậy thường bị xếp vào ngăn kéo với nhận xét "tự ý bỏ đi", đặc biệt khi đối tượng là lao động di dân không hộ khẩu thường trú, không có người thân nắm quyền lực hay am hiểu pháp luật để theo đuổi đến cùng.

Huy nhìn đồng hồ. Hai giờ sáng. Anh rót một ly cà phê sữa đá nguội ngắt, tu một hơi dài, rồi bắt đầu vẽ một sơ đồ thô trên tờ giấy A3 lớn. Anh khoanh tròn từng cái tên, rồi vẽ những đường kẻ nối. Cuối cùng, tất cả những đường kẻ đó đều hội tụ tại một điểm trung tâm: khu vực địa lý dọc theo tuyến xe 08 đoạn qua khu đô thị Đại Nam và vùng phụ cận đang được quy hoạch lại. Tập đoàn Đại Nam. Cái tên đó xuất hiện gián tiếp qua địa chỉ của ba trong số năm nạn nhân.

Anh gõ vào ô tìm kiếm: "Tập đoàn Địa ốc Đại Nam dự án Thủ Đức 2025".

Kết quả này lại hoàn toàn khác. Hàng ngàn kết quả ập ra, đa phần là những bài PR được viết theo đơn đặt hàng, ca ngợi tầm nhìn của Chủ tịch Tập đoàn Đại Nam, ông Bùi Thanh Long. Những hình ảnh phối cảnh đẹp như tranh vẽ của "Siêu đô thị sinh thái Đại Nam Đông" với những tòa tháp kính nhìn ra sông Đồng Nai, những quảng cáo mở bán căn hộ rầm rộ với giá khởi điểm vài chục triệu đồng một mét vuông, và những bài phỏng vấn Chủ tịch Bùi Thanh Long bởi các tờ báo kinh tế uy tín, nơi ông trả lời những câu hỏi về triết lý kinh doanh với vẻ khiêm tốn, bác ái được tô bóng kỹ lưỡng.

Nhưng nếu lục sâu hơn, bỏ qua những bài PR bóng bẩy, lướt đến những diễn đàn dân cư, những trang mạng xã hội cộng đồng địa phương, Huy bắt đầu tìm thấy những vết nứt. Những bình luận của người dân địa phương phàn nàn về việc bị áp giá đền bù đất đai thấp hơn giá thị trường, bị ép ký giấy nhận tiền nhanh. Những dòng tố cáo ẩn danh về việc công trình thi công ban đêm gây ô nhiễm tiếng ồn và bụi bặm không thể kiện cáo. Và một chi tiết nhỏ, rất nhỏ, nhưng lại bắt mắt Huy: một bình luận duy nhất trên một diễn đàn dân cư vùng ven được đăng ba tháng trước, với nội dung: "Bác bảo vệ số 3 ở đây ai biết không, nghe nói bác ấy mất liên lạc cả tháng rồi, vợ bác ấy ở quê đang tìm."

"Bảo vệ số 3." Huy gõ nhanh tên cộng đồng trực tuyến đó vào trình duyệt. "Khu công trường Đại Nam Đông." Và ngay sau đó, anh thử gõ: "Nguyễn Văn Hùng bảo vệ".

Không có kết quả nào chính xác. Nhưng một mẩu tin tức nhỏ xuất hiện, từ một tờ báo địa phương huyện, đưa tin ba tháng trước: "Công an huyện tiếp nhận đơn trình báo tìm người mất tích: Nguyễn Văn Hùng, 58 tuổi, làm bảo vệ hợp đồng tại một công trình xây dựng khu vực Thủ Đức. Cơ quan chức năng xác nhận đang tiến hành xác minh."

Bảo vệ. Không phải thợ mộc như cuốn sổ ghi. Hoặc là cuốn sổ ghi nhầm, hoặc – và điều này làm gáy Huy nổi da gà – người viết cuốn sổ cố tình ghi sai nghề nghiệp để ngụy trang thông tin. Nạn nhân thứ nhất làm bảo vệ tại một công trình của Đại Nam. Huy gạch chân dòng này ba lần.

Trời bắt đầu hửng sáng với màu xám bạc ập vào ô cửa sổ nhỏ. Huy duỗi lưng nghe răng rắc, nhìn lại tờ giấy sơ đồ ngổn ngang những mũi tên và dấu chấm hỏi trước mặt. Với kinh nghiệm hàng chục năm làm báo điều tra, anh nhận ra: không phải ngẫu nhiên mà năm cái tên này bị viết vào cùng một cuốn sổ, theo cùng một trình tự thời gian và cùng một mẫu hành vi biến mất. Ai đó đã theo dõi và ghi chép những vụ mất tích này một cách có hệ thống, cẩn thận. Ai đó đã biết sự thật và đang cố gắng để lại bằng chứng theo cách duy nhất họ có thể: vứt một cuốn sổ tay xuống gầm ghế chiếc xe buýt đêm muộn, cầu mong người nhặt được nó sẽ hiểu và tiếp tục.

Nghĩa là chủ nhân của cuốn sổ đang trong tình trạng nguy hiểm, không thể công khai. Hoặc, điều tồi tệ hơn – họ đã không còn có cơ hội công khai nữa.

Buổi sáng, ngay khi trời vừa đủ sáng, Huy đến thẳng trụ sở Công an quận nơi khu đô thị Đại Nam đang triển khai thi công. Anh xuất trình thẻ nhà báo, yêu cầu gặp cán bộ phụ trách mảng tìm người mất tích để hỏi thông tin về năm trường hợp trong cuốn sổ.

Sĩ quan tiếp đón Huy là một thiếu tá trung niên, dáng người mập mạp, thái độ nhàn nhã đến mức lạ lẫm. Khi Huy trình bày vụ việc và đưa ra tên năm người mất tích, vị thiếu tá gõ vào hệ thống máy tính, chờ đợi, rồi lắc đầu.

"Không có hồ sơ nào cả. Không có đơn trình báo nào được tiếp nhận trong thời gian này với các tên tuổi này ở địa bàn chúng tôi quản lý. Anh lấy thông tin từ đâu vậy?"

"Tôi tìm được một cuốn sổ tay liệt kê thông tin của họ," Huy trả lời thẳng thắn. "Tôi nghi ngờ đây là những vụ mất tích có liên hệ với nhau."

Vị thiếu tá nhìn Huy với ánh mắt phức tạp – vừa có vẻ nghi ngờ, vừa có gì đó trông giống như một sự cảnh báo kín đáo. "Anh Huy à, nhiều lao động di dân tự do, họ đến rồi đi, không thông báo ai cũng là bình thường. Không có đơn trình báo, không có căn cứ để mở hồ sơ điều tra. Nếu anh có bằng chứng cụ thể, hãy nộp đơn chính thức." Ông ta dừng lại, nhấn mạnh từng tiếng: "Bằng chứng cụ thể."

Huy ra khỏi trụ sở công an với cảm giác bức tường vừa được xây thêm một lớp gạch. Không hẳn là bị từ chối, nhưng cũng không hề được hỗ trợ. Sự nhàn nhã kỳ lạ của vị thiếu tá khi nghe đến những cái tên kia – không ngạc nhiên, không tò mò, không lo lắng – khiến Huy không khỏi đặt dấu hỏi.

Anh lấy điện thoại ra, gọi cho đồng nghiệp cũ làm ở cơ quan thống kê dân số. "Hải, tao cần mày tra giúp thông tin hộ khẩu của năm người này. Đặc biệt là xem có ai thân nhân trình báo mất tích không."

Buổi chiều, đang ngồi nhâm nhi cà phê ở một quán vỉa hè gần bến xe, Huy nhận được tin nhắn từ Hải: "Kiểm tra xong. Trong 5 người, 2 người hoàn toàn không có hộ khẩu trong hệ thống thành phố. 2 người khác có hộ khẩu quê nhưng không có cư trú tạm trú tại Thủ Đức. Chỉ mỗi Đinh Trọng Quý có địa chỉ cư trú tạm trú tại quận, nhưng kỳ lạ là, hai tuần trước ngày mày nói anh ta mất tích, hợp đồng thuê nhà của anh ta đã được chủ nhà hủy sớm trước hạn."

Hủy hợp đồng thuê nhà trước khi mất tích hai tuần. Đinh Trọng Quý, vị kỹ sư đo đạc "nghỉ việc", đã bị đẩy khỏi chỗ ở trước khi biến mất. Không phải tự nguyện bỏ đi. Mà là bị xua đuổi, bị dồn vào đường cùng một cách có hệ thống.

Huy nhìn cuốn sổ tay để trên bàn, lần này với một sự chắc chắn lạnh lùng. Đây không phải là năm vụ mất tích ngẫu nhiên của những người không ai để ý. Đây là một chuỗi hành động có chủ đích, được che giấu tinh vi trong bóng đêm của một thành phố đang tăng trưởng quá nóng và những đại dự án tỷ đô đổ xuống vùng ven. Năm cái tên trong cuốn sổ là năm bằng chứng của một tội ác có hệ thống. Và người đã viết cuốn sổ này biết sự thật đó. Anh ta – hoặc cô ta – đã vứt nó xuống gầm ghế chuyến xe 08 như một chai thư gửi cho hậu thế, cầu may rằng có người sẽ tìm được và dám đi tiếp chặng đường mà họ không thể hoàn thành.

Lâm Huy bật ngọn lửa của chiếc bật lửa gas, nhìn ngọn lửa xanh nhỏ nhảy múa trong làn gió chiều, rồi tắt nó đi. Anh sẽ đi tiếp chặng đường đó. Không phải vì anh dũng cảm, mà vì đây là thứ duy nhất khiến anh cảm thấy mình vẫn còn xứng đáng với cái thẻ nhà báo đang mang trong túi áo. Nhưng anh cần thêm một mắt xích, một người biết những bóng tối trên tuyến xe 08 tốt hơn bất kỳ ai. Và người đó đã nói chuyện với anh tối qua, với đôi mắt đen sâu thẳm không bao giờ để lộ toàn bộ những gì mình biết. Trần Tuệ, cô tài xế xe buýt.

Anh gõ vào điện thoại số hotline của Xí nghiệp Xe buýt phụ trách tuyến 08, xin kết nối với tài xế Trần Tuệ, ca chạy tuyến đêm. Dù biết rằng cuộc tiếp cận tiếp theo sẽ không hề dễ dàng với người phụ nữ có cái nhìn gai góc, đề phòng như những chiếc gai nhím giương lên kia.

Đã sao chép liên kết chương