Kẻ Đếm Những Chiếc Cầu
9 phút đọc

Chương 6

Chương 6

Ông Bảy Nhuận sống trong căn nhà có mái tôn xanh, lọt giữa bãi sửa xe và một dãy kho vật liệu. Trước sân không trồng cây cảnh, chỉ có những đoạn lan can cũ dựng thành hàng, mỗi đoạn sơn một vạch đen. Linh An tới lúc 8 giờ, khi ông đang dùng dây thép buộc lại tay vịn của một chiếc xe đẩy hàng.

“Tôi tìm được bản đồ,” cô nói.

“Tìm được một bản.”

“Có chữ ký của ông Minh.”

“Ai ký cũng không quan trọng bằng việc sau đó họ làm gì.”

“Chú có bản ghi âm không?”

Ông Bảy đặt kìm xuống. “Cô muốn hỏi chuyện nào trước?”

“Chuyện cha tôi.”

“Tốt. Người muốn biết người chết thường phải bắt đầu bằng người sống.”

Ông dẫn cô vào một căn phòng nhỏ có bàn gỗ, ba chiếc radio tháo nắp và một tấm bản đồ cũ treo trên tường. Trên bản đồ, sông Mộc chỉ là một đường xanh nhạt, nhưng mọi cây cầu đều có những vạch đen ở mặt sau giấy. Ông Bảy lấy quyển sổ ra, mở trang có chữ “Số Bảy — ngày nước đổi chiều”.

“Đêm cầu sập, cha cô không ở giữa nhịp cầu,” ông nói. “Ông ấy ở dưới mố bắc, nơi lối nối bắt đầu.”

“Biên bản ghi ông ấy ở bàn đo phía nam.”

“Biên bản thích chỗ có bàn hơn chỗ có nước.”

“Chú nhìn thấy gì?”

“Tôi thấy Hòa kéo một cậu bé ra khỏi lan can. Sau đó ông ấy quay lại.”

“Quay lại làm gì?”

“Tìm một người phụ nữ.”

Linh An nắm chặt chiếc bút chì. “Ai?”

“Không biết. Người đó đã đi trước.”

“Chú có chắc không?”

“Tôi đếm người. Ba người qua lối nối, hai người qua mố, một người quay lại. Hòa không thể vừa kéo cậu bé vừa có mặt ở bàn đo.”

“Vậy ông ấy cứu bao nhiêu người?”

“Ba. Có thể bốn, nếu tính người phụ nữ.”

“Vì sao chú không nói trong lời khai?”

Ông Bảy nhìn ra sân, nơi một đoạn lan can rung trong gió. “Tôi nói. Họ không ghi.”

“Ai là ‘họ’?”

“Người cầm biên bản.”

“Tên?”

“Cô có bản đồ và chữ ký rồi. Cô muốn tôi đọc tên để câu chuyện dễ kể hơn?”

Linh An im lặng. Ông Bảy nói đúng. Từ hôm nhận thẻ, cô luôn muốn một giọng nói kết luận thay mình. Bởi nếu ông Bảy nói tên, trách nhiệm sẽ chuyển từ điều cô thấy sang điều người khác nhớ.

“Tôi muốn biết vì sao chú bắt đầu đánh dấu cầu,” cô nói.

Ông Bảy tháo nắp chiếc radio, chỉ vào cuộn dây đồng nhỏ. “Sau vụ sập, họ tháo biển số Cầu Số Bảy. Người ta bảo để đánh lại từ đầu. Nhưng biển số mất thì người dân không biết gọi ai khi đèn hỏng. Tôi dùng sơn đánh dấu nhịp để đội thợ không đi nhầm.”

“Số trên dấu là số nhịp?”

“Một phần. Phần khác là số người biết lối đi.”

“Bảng tọa độ có ký hiệu tam giác.”

“Tam giác là nhà có người giữ chìa khóa. Hai chấm là đèn chết. Vòng tròn là chỗ nước dâng.”

Linh An nhìn quanh. “Đây là một hệ thống bản đồ.”

“Không phải bản đồ. Là trí nhớ tập thể.”

Ông Bảy lấy một hộp nhựa từ ngăn tủ, đặt lên bàn. Bên trong là những mẩu giấy cắt từ biên bản họp, mỗi mẩu có một chữ ký hoặc đoạn ghi chú. Một tờ ghi “đường tiếp cận tạm thời”; tờ khác ghi “không thuộc phạm vi dự án”; tờ thứ ba chỉ có một dòng đỏ: “Nếu cần thì tháo sau.”

“Chú lấy ở đâu?”

“Đội thợ xin bản sao. Có người giữ, có người trả. Tờ nào bị bỏ vào thùng rác thì tôi nhặt.”

“Vì sao giao tôi thẻ nhớ?”

“Tôi không giao.”

“Chú cứ nói thế.”

“Vì đó là sự thật.”

Một chiếc xe máy dừng trước sân. Tùng bước vào, đặt túi bánh mì lên bàn. “Chú Nhuận, mẹ cháu bảo hôm nay đừng cho người lạ vào.”

“Cô ấy nói đúng.”

“Cháu có phải người lạ không?”

“Cháu là người hay nghe trộm.”

Tùng cười, rồi thấy Linh An. “Chị đã tìm ra cửa hàng khung ảnh chưa?”

“Em biết?”

“Cháu chở chú Nhuận tới đó năm ngoái.”

Ông Bảy đưa mắt nhìn cậu. Tùng thôi cười.

“Có người theo dõi chị từ hôm ở cầu,” cậu nói. “Một chiếc xe trắng, biển có đuôi 17. Chú Nhuận bảo không được nói, nhưng nếu chị đã tới đây thì nói cũng chẳng làm nó chạy nhanh hơn.”

Khải tới sau đó mười phút, mang theo tập bản vẽ cuộn. Anh đặt chúng lên bàn và hỏi ông Bảy về đoạn nối. Ông Bảy không trả lời mà lấy một chiếc thước gỗ, đặt lên bản đồ.

“Đoạn này không phải lối thoát,” ông nói. “Nó là lối dẫn người tới nơi có thể tiếp tục đi.”

“Khác nhau ở đâu?” Khải hỏi.

“Lối thoát kết thúc ở chỗ cao. Lối dẫn người phải nối với một người khác.”

Khải mở bản vẽ. “Nếu nước vượt 1,2 mét, đoạn nối kho cũ bị ngập. Nhưng có bậc lên mái kho.”

“Mái kho đã bị cắt thang.”

“Tôi biết.”

“Vì sao?” Linh An hỏi.

Khải chỉ vào bản vẽ bổ sung. “Họ dựng vách bê tông để xe vật liệu chạy qua. Cắt thang không có trong thiết kế, nhưng thợ làm theo chỉ đạo tại chỗ.”

“Ai chỉ đạo?”

Khải nhìn ông Bảy. “Có người chụp lại.”

Ông Bảy đứng lên, đi tới radio lớn nhất. Ông tháo nắp sau, lộ một khoang trống phía dưới dây điện. Từ đó ông lấy ra một cuộn băng cassette bọc vải dầu.

“Băng này?” Linh An hỏi.

“Không phải băng cô nghe.”

“Có cuộc họp không?”

“Có tiếng người. Cô sẽ nghe tên. Nhưng tên không đồng nghĩa với tội.”

Ông đưa băng cho cô, nhưng giữ một đầu. “Cô phải hứa hai việc.”

“Việc gì?”

“Không phát băng khi chưa nghe hết. Không công bố giọng của người không biết mình bị ghi âm nếu chưa kiểm tra ngữ cảnh.”

“Chú biết chúng tôi đang làm báo.”

“Tôi biết Yến biết xin phép. Tôi không biết cô có biết không.”

Linh An nhận băng. “Tôi hứa.”

Ở hợp tác xã, Diễm giúp họ dựng một máy đọc băng cũ từ hai bộ phận khác nhau. Tùng làm sạch đầu từ bằng tăm bông, Khải kiểm tra nguồn điện và Yến ghi lại từng mốc thời gian. Họ không kết nối máy với mạng. Diễm nói nếu băng đã bị cắt, không phần mềm nào có thể trả lại một câu đã mất.

Băng bắt đầu bằng tiếng quạt trần, tiếng ghế kéo và một giọng nam đọc danh sách. Linh An nhận ra giọng Trần Đức Minh từ các cuộc họp báo. Ông nói về tiến độ giải phóng mặt bằng, nhấn mạnh rằng phụ lục công khai phải “đơn giản để người dân dễ hiểu”.

Một giọng khác hỏi về đường nối dưới Cầu Số Bảy.

“Nếu đưa vào phụ lục, diện tích hành lang tăng,” Minh nói. “Không thể phê duyệt trong quý này.”

“Nhưng nó đang tồn tại,” giọng kia đáp.

“Tạm thời.”

“Đội duy tu sử dụng quanh năm.”

“Đội duy tu không phải cơ quan quy hoạch.”

Khải nghiêng người về phía máy. Linh An ghi từng câu vào sổ.

Một tiếng lật giấy. Sau đó là giọng Hòa, cha cô, rõ hơn bất kỳ phần nào cô từng nghe qua điện thoại cũ.

“Nếu các anh ghi nó là tạm, lúc nước lên người dân sẽ không biết đi đâu.”

Minh đáp: “Anh Hòa, nhiệm vụ của anh là số liệu. Người dân đi đâu là trách nhiệm của chính quyền địa phương.”

“Số liệu không tự tách khỏi người.”

“Anh đang làm khó công việc.”

“Tôi đang ghi đúng.”

Băng nhiễu trong vài giây. Yến ra hiệu không ai nói. Từ nền âm thanh có tiếng một phụ nữ ho, rất nhẹ. Linh An nhận ra đó là mẹ.

Vân không ngồi trong phòng. Bà đứng ngoài cửa kính, nhìn vào máy cassette nhưng không bước qua.

Trong băng, một người nói nhỏ: “Chị Vân, chị ký vào đây thì khoản hỗ trợ sẽ giải ngân ngay. Nhà chị dưới hành lang, họ sẽ kiểm tra lại sau.”

Vân đáp: “Tôi không biết số liệu.”

“Chị chỉ xác nhận chồng chị đã được nhắc về quy trình.”

Hòa đứng bật dậy. Ghế kéo mạnh trên nền. “Đừng đưa chuyện này cho bà ấy.”

Giọng Minh cao hơn: “Anh ngồi xuống.”

Rồi băng bị cắt. Không phải nhiễu, mà tiếng đầu từ dừng đột ngột, sau đó máy chạy trống vài vòng. Thời lượng còn lại gần một phút, chỉ có tiếng quạt và một tiếng cửa đóng.

Linh An nhìn mẹ qua cửa kính. Vân quay mặt đi.

“Băng bị cắt đúng chỗ,” Yến nói.

“Ai cắt?” Khải hỏi.

“Chưa biết.”

“Nhưng đủ để thấy ông Minh biết đường nối.”

Linh An tháo băng, đặt vào túi. Cô không nói rằng điều làm mình đau không phải giọng Minh. Mà là giọng mẹ trong một cuộc họp cô chưa từng biết bà tham dự.

Vân bước vào sau khi mọi người đã tắt máy. Bà nhìn bốn người, rồi nhìn cuộn băng.

“Mẹ nghe chưa?” Linh An hỏi.

“Mẹ nghe lúc đó.”

“Mẹ ký gì?”

“Một lời xác nhận.”

“Xác nhận cha có biết quy trình?”

“Mẹ ký để nhận tiền hỗ trợ.”

Khải đứng lên, nhưng Yến giữ tay anh. Vân nói tiếp, giọng đều như đang đọc thực đơn:

“Cha con không muốn mẹ ký. Ông ấy nói nếu ký thì người ta sẽ dùng chữ ký của mẹ để biến lời nói thành bằng chứng chống lại ông. Mẹ vẫn ký.”

Linh An nghe tiếng băng chạy trống trong đầu.

“Vì sao?”

“Vì lúc đó con đang ở bệnh viện, cần mổ chân. Cha con nói không sao, nhưng mẹ biết nếu không có tiền con sẽ không đi học lại được.”

“Cha có biết không?”

“Biết.”

“Ông ấy có trách mẹ?”

“Không. Ông ấy chỉ không nói với mẹ câu nào trong ba ngày.”

Linh An lật cuộn băng trong tay. “Mẹ có bản gốc không?”

“Không.”

“Mẹ có biết ai giữ không?”

Vân nhìn ông Bảy. “Người giữ bản gốc không muốn con gái Hòa đi tìm.”

Ông Bảy không phủ nhận. Ông lấy quyển sổ, viết một dòng mới: “Số bốn — người sống biết.”

Chiều đó, Linh An gửi cho Yến một bản chép nội dung băng, không gửi file âm thanh. Cô ghi rõ các câu nghe được, đánh dấu phần chưa chắc chắn và đề nghị chưa công bố tên bà Vân. Yến đồng ý, nhưng nói Ban Hạ tầng đã gửi văn bản yêu cầu đài giao bản ghi liên quan tới Thịnh.

“Họ biết băng tồn tại?” Linh An hỏi.

“Có thể họ chỉ đoán. Cũng có thể họ nghe được chúng ta bật máy.”

Diễm đi tới, đặt một chiếc phong bì lên bàn. “Có người gửi tới hợp tác xã. Không ghi tên.”

Linh An mở ra. Bên trong là ảnh chụp màn hình lịch sử truy cập tài khoản của Thịnh. Một dòng duy nhất được khoanh đỏ: 9 giờ 17 phút, tài khoản của ông đăng nhập từ địa chỉ máy chủ thuộc Liên danh Cầu Mộc, sau thời điểm ông được xác nhận đã chết.

Ở mặt sau ảnh có một câu viết bằng mực đen:

“Đừng chỉ đếm cầu. Đếm cả người đã mở cửa.”

Linh An nhìn giờ trên đồng hồ. 9 giờ 16.

Một phút sau, tất cả máy tính trong hợp tác xã đồng loạt mất kết nối.

Đã sao chép liên kết chương