Mật Mã Trong Vườn Quýt
9 phút đọc

Chương 15

Căn phòng sau bức tường nước

Cơn mưa lớn đổ xuống ngay sau khi công an rời khỏi vườn.

Nước tràn qua đường mương cũ, kéo lá và cành nhỏ thành từng dải. Bà Mận đóng cửa căn chòi, bảo mọi người không được ra ngoài, nhưng tiếng gõ sau nền vẫn tiếp tục. Ba tiếng, nghỉ một nhịp, rồi hai tiếng.

Thư dùng cán chổi gõ lại.

Từ dưới nền vọng lên một tiếng đáp.

Quân gọi video từ bệnh viện. Anh nhìn màn hình, nghe tiếng gõ.

“Nền chòi rỗng,” anh nói. “Bà Mận, căn chòi xây trên bể cũ à?”

“Một phần. Tấn bảo không được đào dưới bếp.”

“Vì sao?”

“Ông nói đất yếu.”

Lâm soi đèn dọc mép nền. Một viên gạch lệch khỏi hàng, nước mưa chảy qua khe rồi biến mất. Cậu cạy viên gạch. Bên dưới là một lỗ thông nhỏ, đủ luồn tay. Không khí lạnh và ẩm phả lên.

Huy lấy chiếc chìa khóa Dũng làm rơi. Hình vòng tròn chia sáu phần khớp với một ổ khóa bằng đồng bên dưới nền.

“Chìa của bà Lựu,” Mai nói. “Mẹ tôi mất trước khi kịp đưa cho chú Tấn.”

“Dũng lấy được từ đâu?” Thư hỏi.

“Có thể từ nhà cũ của mẹ tôi. Sau khi bà mất, đồ đạc bị người ta dọn.”

Huy lắp chìa. Ổ khóa xoay, nhưng không mở. Quân nhìn trên video rồi bảo mọi người xoay ngược một phần tư vòng. Lần này bên dưới vang tiếng lẫy bật.

Nền chòi sụt xuống một góc.

Mọi người lùi lại. Một bậc đá hiện ra, dẫn xuống khoảng tối. Nước từ mưa chảy qua tường, nhưng phần giữa khô hơn. Bà Mận lấy đèn dầu, đi xuống trước.

“Tôi từng biết căn phòng này,” bà nói. “Nhưng tưởng đã bị lấp.”

Cầu thang có bảy bậc. Bậc thứ sáu khắc hình vòng tròn, bậc thứ bảy khắc chữ L. Cuối cầu thang là một phòng hẹp, tường xây bằng gạch cũ. Một phía nối với bể chứa; phía kia có cửa sắt bị khóa.

Trên tường treo những mảnh gỗ ghi ngày mở van. Có bảy mảnh, nhưng mảnh cuối bị tháo.

Quân hướng dẫn qua điện thoại: “Tìm van phụ. Phòng có thể vẫn thông với bể chính.”

Huy dùng đèn soi. Dưới lớp rêu có một nắp tròn. Khi mở, nước từ đường ống tràn vào khoảng hẹp. Trên thành nắp là dấu sáu chấm.

“Đây là nơi chia nước,” anh nói.

Thư nhìn cánh cửa sắt. Chìa khóa vòng tròn không khớp ổ khóa cửa. Mai lấy từ túi vải một chiếc nhẫn bạc khắc chữ L, thứ họ tìm thấy dưới cây không có quả. Cô thử đưa nhẫn vào một khe nhỏ trên tay nắm. Một chốt bên trong bật ra.

Cánh cửa mở.

Bên trong không có kho báu. Chỉ có một tủ sắt thấp, bảy ngăn, và một chiếc bàn đá. Ngăn thứ sáu trống. Ngăn thứ bảy có phong bì bọc dầu.

Thư không vội mở. Cô chụp ảnh, ghi vị trí và nhờ trưởng thôn làm chứng qua cuộc gọi. Bà Mận đọc số từng ngăn. Huy ghi thời gian. Lâm quay toàn bộ.

Quân trên màn hình nói: “Mở đi.”

Thư xé lớp bọc.

Bên trong là bản gốc thỏa thuận sử dụng và bảo vệ lối nước, có bảy chữ ký. Chữ ký bà Lựu có dấu tay bên cạnh. Dòng cuối ghi rõ:

“Đất có thể chuyển cho người khác, nhưng quyền qua lại, sửa chữa, nhận nước và gọi tên người góp công không chấm dứt theo việc chuyển đất.”

Phía dưới có một phụ lục riêng về vùng bể chứa: mọi công trình mới trong phạm vi sáu mươi sáu bước phải được sáu hộ đồng ý.

Thư cầm bản giấy, không thở được trong vài giây.

“Họ cần xóa phụ lục này,” cô nói.

Huy nhìn tọa độ trong phụ lục. “Giếng công nghiệp nằm trong phạm vi.”

Mai đặt tay lên chữ ký của mẹ. “Mẹ tôi đã giữ tên mình ở đây.”

Trong phong bì còn một tờ giấy khác, là thư cha Thư viết cho ba người con:

“Nếu các con đọc được, nghĩa là người khác đã cố lấy nó trước. Ta xin lỗi vì đã biến việc bảo vệ một lời hứa thành trò tìm mật mã. Ta đã nghĩ các con cần một lý do để ở lại bên nhau. Thật ra các con chỉ cần được nói thật sớm hơn.”

Quân đọc qua điện thoại. Anh không khóc, nhưng quay mặt về phía cửa sổ bệnh viện.

“Ông ấy xin lỗi muộn,” anh nói.

“Nhưng vẫn là xin lỗi,” Lâm đáp.

Thư đọc tiếp:

“Khoản tiền cuối cùng ta chưa trả cho nhà bà Lựu không phải do quên. Bà Mai không nhận tiền. Bà ấy nhận quyền được gọi tên. Ta giữ tiền trong tài khoản tổ nước để dùng sửa bể khi cần. Nếu bán, các con phải hỏi Mai muốn gì, không được dùng tiền thay cho câu trả lời.”

Mai im lặng. Mưa đập vào nền chòi.

“Mẹ tôi không muốn tiền,” cô nói. “Nhưng bà ấy muốn có chỗ đứng khi người ta họp.”

“Cô có chỗ đó,” Thư nói.

“Chị đừng cho tôi. Hãy đọc tên tôi trong biên bản.”

Thư gật.

Trong ngăn tủ thứ năm có một tập ảnh. Một ảnh chụp Khải đứng trong phòng bể, tay cầm bản sao giấy chứng nhận. Ảnh được chụp từ góc trên cao, có lẽ bởi camera cũ mà gia đình chưa biết. Một ảnh khác chụp Dũng đang nối ống thử. Ảnh cuối là chị Vân trao một phong bì cho ông Nghiêm ở quán nước.

“Công ty đã gặp ông Nghiêm?” Huy hỏi.

“Có thể họ muốn mua bản sao,” Thư nói.

Mai nhìn ảnh. “Ông Nghiêm không bán.”

“Nhưng phong bì vẫn có.”

Lâm tìm thấy một thẻ nhớ trong ngăn thứ bảy, cùng biểu tượng chữ L. Cậu cắm vào máy quay. Video quay bằng camera ẩn trong phòng bể, ghi ngày Dũng đặt điện thoại dưới cầu thang. Góc quay cho thấy Dũng và Khải tranh cãi.

“Chị Vân bảo nếu có bản gốc thì xóa phụ lục,” Khải nói.

“Không có bản gốc thì phá bể,” Dũng đáp.

“Đừng làm quá. Chỉ cần đất chuyển tên.”

“Anh Huy biết chưa?”

Khải cười. “Huy chỉ biết giá. Còn người quyết định là trên kia.”

Video kết thúc khi Khải nhìn thẳng vào camera.

“Nếu ai xem được, nói với bà Lựu là tên bà vẫn còn.”

“Anh ta biết camera,” Huy nói.

“Có thể anh ta đặt,” Lâm đáp.

“Hoặc biết người đặt.”

Đúng lúc đó, nước trong phòng dâng nhanh. Mưa đã làm một đoạn đường ống phía ngoài nứt, nước tràn qua tường. Quân hét qua điện thoại:

“Đóng van chính! Nếu không bể sẽ đầy.”

Huy chạy lên cầu thang. Thư giữ tài liệu trong túi chống nước. Mai lấy đèn. Bà Mận ở lại kiểm tra tủ.

Khi Quân hướng dẫn Huy xoay van, một mảng tường phía sau tủ sắt sụp xuống. Sau lớp gạch là một đường hầm nhỏ thông ra bờ mương, trên nền có dấu giày mới.

Họ chạy theo. Dấu giày kết thúc ở một cửa thoát nước đã mở.

Bên ngoài, nước cuốn một người xuống rãnh. Huy lao tới kéo lên. Người đó là Dũng, tay bị xước, chiếc áo phản quang rách.

Dũng ho sặc, vẫn nắm trong tay một mảnh giấy ướt.

Thư giật lấy. Mực nhòe gần hết, chỉ còn một dòng:

Họ đưa Dũng lên nền chòi, đặt anh nằm nghiêng để nước thoát khỏi phổi. Huy kiểm tra vết thương, còn Mai giữ đèn. Dũng tỉnh lại vài giây, nhìn thấy chiếc túi chống nước trong tay Thư.

“Đừng để họ lấy,” anh nói.

“Ai?”

“Người đã đổi sổ.”

“Anh biết người đó?”

Dũng nhắm mắt. “Tôi biết người đặt lệnh. Không biết ai cầm.”

Thư hỏi về căn phòng dưới chòi. Dũng nói anh tìm bản sao vì Khải bảo bản thật đã bị chuyển. Anh đi qua đường hầm nhưng không thấy tủ sắt, chỉ thấy cửa bị khóa từ bên kia. Khi mưa làm nước dâng, anh gõ tường để gọi người ở trên.

“Có ai ở bên kia không?” Lâm hỏi.

“Có thể là tiếng vọng.”

“Anh đã ở trong bao lâu?”

“Không biết.”

Huy đưa Dũng chiếc khăn. “Anh đặt điện thoại dưới bể?”

Dũng không nói.

“Nếu anh không nói, người khác sẽ nói thay.”

Dũng nhìn Huy. “Tôi đặt để ghi lại. Tôi nghĩ nếu có bằng chứng, mẹ tôi sẽ được gọi tên. Tôi không nghĩ họ sẽ phá cây.”

Mai hỏi: “Anh lấy nhẫn của mẹ tôi?”

Dũng gật rất nhẹ. “Tôi tìm thấy trong hộp đồ cũ. Tôi giữ nhưng không dám đưa.”

“Vì sao đặt dưới cây?”

“Vì Khải nói muốn mọi người nghĩ bà Lựu không có quyền. Tôi muốn kéo các anh về chỗ mẹ tôi từng đứng.”

Thư không tha thứ cho việc anh đổi sổ, nhưng hiểu động cơ không xóa hậu quả. Cô ghi lời anh vào biên bản, để anh ký sau khi tỉnh.

Mưa giảm. Chuyên gia thủy lợi đến kiểm tra đường hầm và xác nhận khoang dưới chòi là lối kiểm tra phụ, nối bể chứa với mương thoát. Nếu bị lấp, áp lực sẽ dồn vào tường.

Quân qua điện thoại hướng dẫn mọi người đặt bao cát. Na nghe thấy, nói ông nội từng bảo “bể có hai cửa, một cho nước và một cho người nhớ”.

Thư nhìn bản gốc. Phụ lục ghi “cửa phụ phải mở trong ngày bảo trì”. Đây là lý do cha không giấu giấy trong tủ: bản gốc nằm ở nơi cần mở khi người dùng cùng đến.

Huy gọi công an, giao Dũng và toàn bộ vật chứng. Dũng đồng ý làm nhân chứng, nhưng phải chịu trách nhiệm riêng.

Dũng nói thêm, giọng đứt quãng: “Đừng để họ lấy.”

Thư hiểu Dũng không chỉ nói về một tập giấy. Anh nói về quyền được kể câu chuyện của mẹ mình, thứ đã bị người khác dùng như một công cụ rồi vứt bỏ. Cô bảo Mai ngồi cạnh Dũng, hỏi từng câu ngắn để anh không phải gắng sức. Dũng xác nhận Khải đã nhìn thấy bản gốc, nhưng không dám lấy vì phụ lục có dấu xã và bảy chữ ký. Khải muốn thay bằng bản sao thiếu tên bà Lựu để biến tranh chấp thành chuyện giữa vài hộ.

Mai không hỏi Dũng vì sao anh phản bội mẹ. Cô chỉ hỏi anh còn giữ bản ghi nào khác không. Dũng nói một phần dữ liệu nằm trong chiếc điện thoại dưới bể. Họ đã lấy được điện thoại, nhưng file gốc có thể còn trong thẻ nhớ dự phòng gắn dưới nắp.

Lâm quay lại phòng bể, kiểm tra từng khe. Cậu tìm thấy thẻ nhớ trong lớp băng đen, bọc kín bằng cao su. File ghi ngày Khải sửa sổ, không có lời nói nhưng có hình tay anh ta lật từng trang. Bên cạnh là chị Vân, chỉ vào dòng tên bà Lựu.

Thư không xem hết ngay. Cô sao lưu, niêm phong và ghi rõ ai đã cầm. Luật sư nhắc bằng chứng càng nhiều người chạm càng dễ bị phản đối.

Dũng nhìn chiếc túi chống nước. “Cô sẽ đưa tên mẹ tôi vào biên bản chứ?”

“Có.”

“Không phải chỉ phần kể chuyện.”

“Cả quyền được mời vào cuộc họp.”

Dũng nhắm mắt, thở ra. Đó là điều gần nhất với một lời xin lỗi anh có thể nói.

“Bản sao đã bị thay. Hãy kiểm tra sổ giống.”

Dũng nhìn họ, rồi ngất đi trong dòng nước.

“Bản sao đã bị thay. Hãy kiểm tra sổ giống.”

Dũng nhìn họ, rồi ngất đi trong dòng nước.

Đã sao chép liên kết chương