Chương 54
Chương 54 — Con Tàu Không Bao Giờ Ngoảnh Lại
Hầm Lặng
Khoảng không gian trải ra trước mắt Khê Lam lớn hơn bất kỳ điều gì cô có thể chuẩn bị tinh thần đón nhận — một khoang chứa đồ sộ, có lẽ từng là một trong những kho lưu trữ vật tư nguyên thủy từ thời phóng tàu, trần cao vươn lên nhiều mét, giờ đây được chia nhỏ thành hàng chục khu vực sinh hoạt bằng những tấm vải và kim loại chắp vá, mỗi khu vực là một mái nhà nhỏ cho một gia đình hoặc một nhóm người. Ánh sáng tỏa ra từ những dải đèn tự chế chạy dọc trần, được cấp điện từ một hệ thống Khê Lam nhận ra ngay là được đấu nối khéo léo vào mạch điện phụ của con tàu, đủ tinh vi để không bị phát hiện qua các hệ thống giám sát tiêu thụ năng lượng chính thức.
"Chúng tôi gọi nơi này là Hầm Lặng." Người phụ nữ trẻ dẫn đường nói, một chút tự hào lẫn trong giọng cô khi nhìn thấy vẻ kinh ngạc trên khuôn mặt ba vị khách. "Vì chúng tôi phải sống trong im lặng, theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, để không ai ở phía trên biết tới sự tồn tại của chúng tôi."
Khê Lam nhìn quanh, thấy những khu vườn thủy canh mini được trồng trong các thùng chứa tái chế, ánh sáng nhân tạo yếu ớt nhưng đủ để nuôi một số loại rau củ cơ bản; thấy một hệ thống thu gom và lọc nước nhỏ được lắp ráp từ vô số bộ phận không khớp nhau nhưng vẫn vận hành; thấy trẻ con chạy nhảy giữa các lối đi hẹp, tiếng cười của chúng vang vọng trong không gian rộng lớn một cách kỳ lạ, hồn nhiên tới mức tương phản hoàn toàn với nỗi sợ hãi và sự cảnh giác bao trùm mọi thứ khác ở đây.
"Bao nhiêu người sống ở đây?" Bách Vân hỏi, giọng anh vẫn còn choáng váng.
"Gần hai trăm, tính cả trẻ em." Người đàn ông cầm đèn ban đầu đáp, giờ đây đã hạ vũ khí hoàn toàn, có vẻ thoải mái hơn khi ở trong không gian quen thuộc của mình. "Không phải tất cả đều ở đây thường xuyên — một số di chuyển giữa nhiều khu vực ẩn náu khác nhau, tùy vào tình hình an ninh phía trên."
"Nhiều khu vực khác?" Khê Lam hỏi, kinh ngạc trước quy mô của mạng lưới này.
"Chúng tôi không phải cộng đồng duy nhất." Người phụ nữ trẻ xác nhận. "Nhưng đó không phải chuyện chúng tôi có thể kể chi tiết cho người lạ, dù các người có ý định tốt tới đâu."
"Các người sống dựa vào đâu, nếu không có Phiếu Khí chính thức?" Bách Vân hỏi, không kìm được sự tò mò của một người vốn quen với một hệ thống nơi mọi khẩu phần đều được tính toán và ghi nhận nghiêm ngặt.
Người đàn ông cầm đèn ban đầu, giờ đã giới thiệu tên mình chỉ đơn giản là "Rìu" theo cách những người ở Hầm Lặng vẫn gọi nhau bằng biệt danh gắn với công việc họ đảm nhận, cười khẽ, một tiếng cười khô khốc nhưng không thiếu sự hài hước cay đắng. "Chúng tôi sống nhờ những gì hệ thống phía trên vứt bỏ. Nước thải từ các trạm tái chế lớn vẫn còn sót lại một phần có thể lọc lại được, nếu ai đó đủ kiên nhẫn và đủ hiểu biết kỹ thuật để làm điều đó. Không khí được rút một phần nhỏ, không đáng kể để bị phát hiện, từ các đường ống dự phòng ít khi được kiểm tra. Còn thực phẩm, chúng tôi tự trồng những gì có thể, và đôi khi, có những người phía trên, những người còn nhớ hoặc còn quan tâm, để lại phần dư thừa ở những nơi chúng tôi biết cách tìm tới."
"Còn về danh tính chính thức?" Khê Lam hỏi. "Làm sao các người tồn tại mà không bị phát hiện qua các đợt kiểm tra Phiếu Khí?"
"Một số trong chúng tôi có Phiếu Khí giả, được chế tạo bởi những kỹ sư tài giỏi từng làm việc chính thức trước khi rớt sổ, đủ tinh vi để qua được các máy quét cũ ở những khu vực ít được nâng cấp." Rìu giải thích, ánh mắt ông ánh lên một chút tự hào nghề nghiệp. "Nhưng phần lớn chúng tôi đơn giản là không bao giờ xuất hiện ở bất kỳ đâu cần quét thẻ. Chúng tôi học cách biến mất khỏi tầm nhìn, không chỉ về mặt hồ sơ, mà cả về mặt vật lý — biết những giờ nào an toàn để di chuyển lên các khu vực gần bề mặt hơn, những lối nào camera không phủ sóng, những người nào phía trên có thể tin tưởng được để trao đổi mà không báo cáo."
Khê Lam gật đầu, một sự khâm phục lẫn xót xa dâng lên trong lòng cô trước sự khéo léo và kiên cường cần thiết để duy trì một cuộc sống như vậy, ẩn giấu suốt nhiều năm ngay dưới lớp vỏ trật tự hoàn hảo mà Hội Đồng vẫn luôn phô bày trước toàn thể cư dân chính thức của con tàu.
Họ được dẫn tới một khu vực trung tâm, nơi một số người lớn tuổi hơn đang ngồi quây quần quanh một chiếc bàn được ghép từ nhiều tấm kim loại cũ, dường như đang thảo luận công việc thường nhật của cộng đồng. Khi cả nhóm tới gần, một người phụ nữ đứng dậy khỏi bàn, dáng đi chậm rãi nhưng đầy uy nghiêm, tuổi bà có lẽ đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc trắng được búi gọn gàng, khuôn mặt bà mang những nếp nhăn sâu của một cuộc đời trải qua nhiều biến cố, nhưng đôi mắt bà vẫn sắc bén và tinh anh lạ thường.
"Tôi là Phạm Ngọc Sương." Bà nói, giọng bà trầm và điềm tĩnh, mang một quyền uy tự nhiên không cần phô trương. "Những người ở đây coi tôi là một trong những người lớn tuổi nhất còn nhớ được những ngày đầu tiên của nơi này. Tôi được báo là các vị tới đây tìm kiếm một cái tên."
"Vâng, thưa bà." Khê Lam nói, cúi đầu theo bản năng kính trọng. "Cháu là Đỗ Khê Lam, con gái của Lâm Vĩnh Chi."
Phạm Ngọc Sương nhìn cô thật lâu, một sự im lặng kéo dài tới mức Khê Lam bắt đầu lo sợ mình đã đọc sai tín hiệu, rằng cái tên ấy không mang ý nghĩa gì với người phụ nữ này. Nhưng rồi, bà đưa tay lên, chạm nhẹ vào cằm Khê Lam, nghiêng đầu quan sát khuôn mặt cô dưới ánh đèn, như đang so sánh nó với một hình ảnh cất giữ sâu trong ký ức.
"Đôi mắt." Bà thì thầm, giọng bà run lên lần đầu tiên kể từ khi họ gặp. "Con có đôi mắt của mẹ con, con bé ạ. Chính xác như vậy, không sai một chút nào."
Khê Lam cảm thấy nước mắt trào ra không kiểm soát được, một sự pha trộn giữa sốc, hy vọng, và một nỗi xúc động quá lớn để có thể diễn đạt thành lời. "Bà biết mẹ cháu?"
"Ta không chỉ biết bà ấy." Phạm Ngọc Sương nói, hạ tay xuống, ánh mắt bà giờ đây mang một nỗi buồn sâu thẳm hòa lẫn với một sự ấm áp bất ngờ. "Ta là một trong những người đầu tiên đón bà ấy, khi bà ấy được đưa tới đây, mười chín năm trước, ngay sau đêm mà các người gọi là Đêm Rễ Đứt."
Căn phòng dường như chìm vào im lặng xung quanh Khê Lam, mọi âm thanh khác — tiếng trẻ con, tiếng trò chuyện của những người khác trong cộng đồng — đều mờ nhạt đi trước trọng lượng của câu nói ấy. Mười chín năm tìm kiếm, mười chín năm sống với một câu hỏi không lời đáp, giờ đây đang đứng trước một người có thể, cuối cùng, cho cô câu trả lời cô khao khát hơn bất kỳ điều gì khác trong đời.
"Bà ấy còn sống không, thưa bà?" Khê Lam hỏi, giọng cô vỡ ra thành một tiếng thì thầm run rẩy.
Phạm Ngọc Sương nhìn cô, rồi liếc sang Bách Vân và Bùi Đắc Sinh đang đứng phía sau, rồi nhìn quanh không gian đông đúc của Hầm Lặng, nơi nhiều cặp mắt tò mò đang dõi theo cuộc trò chuyện từ xa.
"Đây không phải nơi thích hợp để nói về điều đó." Bà nói cuối cùng, giọng bà nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. "Hãy theo ta. Có một câu chuyện dài ta cần kể cho con nghe, con bé ạ, và nó xứng đáng được kể trong một không gian riêng tư hơn, không phải giữa đám đông tò mò này."
Bà ra hiệu cho một trong những người đứng gần đó chuẩn bị chỗ nghỉ ngơi cho Bùi Đắc Sinh và Bách Vân, rồi dẫn Khê Lam theo một lối đi nhỏ tách biệt khỏi khu vực trung tâm, tới một góc yên tĩnh hơn của Hầm Lặng, nơi một tấm màn vải cũ ngăn cách một không gian nhỏ được sắp xếp gọn gàng làm nơi ở riêng của bà.
Khê Lam ngồi xuống, tay cô vẫn còn run, tim cô đập dồn dập trước ngưỡng cửa của một sự thật cô đã tìm kiếm suốt cả cuộc đời trưởng thành của mình, không biết liệu những gì sắp được nghe sẽ là niềm vui trọn vẹn hay một nỗi đau mới, nhưng biết chắc một điều — sau khoảnh khắc này, cô sẽ không bao giờ còn là người con gái mang theo một câu hỏi không lời đáp nữa.
Phạm Ngọc Sương rót cho cô một chén nước nóng pha từ loại lá cây gì đó Khê Lam không nhận ra, một hương vị lạ nhưng dễ chịu, thứ mùi thơm mộc mạc khiến cô nhớ tới những buổi tối ngồi cùng bà nội. Bà lão nhìn cô một lúc lâu trước khi bắt đầu, như đang cân nhắc xem nên bắt đầu câu chuyện từ đâu, giữa vô số những mảnh ký ức đã được cất giữ suốt mười chín năm.
"Con đã chờ đợi rất lâu để nghe điều này." Phạm Ngọc Sương nói, đặt chén nước xuống trước mặt Khê Lam. "Ta sẽ không để con phải chờ thêm một phút nào nữa mà không cần thiết. Nhưng ta xin con một điều, trước khi ta bắt đầu — dù câu chuyện này dẫn tới đâu, hãy nhớ rằng mẹ con, trong suốt những năm ta biết bà ấy, chưa từng một lần ngừng nghĩ tới con."