Chương 12
Chương 12 — Người Giữ Hạt Giống Cuối Cùng
Trong bảy ngày tiếp theo, Khê Miên gần như không rời khỏi Kho Hạt và các khu ruộng bị ảnh hưởng, làm việc cùng Vệ Diễm Quỳnh và một nhóm nhỏ tình nguyện viên để lập bản đồ đầy đủ mức độ lan rộng của Bệnh Mục Rễ trên toàn bộ hệ thống canh tác của Vòm Xanh.
Kết quả không hề khả quan. Từ mười bảy hàng ban đầu ở ruộng thấp, con số đã tăng lên bốn mươi hai hàng chỉ trong một tuần, lan rộng dần theo đúng hướng của mạng lưới đường ống ngầm dẫn từ Trạm Hô Hấp — bằng chứng rõ ràng nhất củng cố giả thuyết của cha cô về nguồn gốc của bệnh dịch. Khu nhà kính phía tây, nơi Diệu Lam làm việc, cũng ghi nhận hiện tượng tương tự trên các khay cây con, dù ở mức độ nhẹ hơn nhờ hệ thống đất trồng trong nhà kính được thay mới thường xuyên hơn ruộng ngoài trời.
"Con đã tính toán được mức độ nghiêm trọng chưa?" Biện Bá Uy hỏi, khi Khê Miên trình bày báo cáo sơ bộ trong một cuộc họp không chính thức trước khi triệu tập toàn Hội Đồng.
"Rồi ạ." Khê Miên trải một tấm bản đồ Vòm Xanh lên bàn, đánh dấu các khu vực bị ảnh hưởng bằng mực đỏ, mật độ dày đặc nhất ở gần đường ống trung tâm, thưa dần ra các khu vực xa hơn. "Nếu tốc độ lan rộng giữ nguyên như hiện tại, con ước tính trong vòng hai đến ba mùa vụ tới, chúng ta sẽ mất khả năng canh tác ổn định trên gần một phần ba tổng diện tích ruộng bậc thang. Điều đó có nghĩa là sản lượng lương thực sẽ giảm xuống dưới ngưỡng đủ nuôi toàn bộ dân số Vòm Xanh."
Một khoảng im lặng nặng nề bao trùm căn phòng nhỏ.
"Còn Kho Hạt?" Biện Bá Uy hỏi tiếp, giọng ông đã trầm hẳn xuống.
Đây chính là phần báo cáo Khê Miên lo sợ nhất phải trình bày. "Nghiêm trọng hơn," cô nói, cố giữ giọng bình tĩnh dù bản thân cô đã mất ngủ nhiều đêm liền vì con số này. "Đất trong các khay ươm mầm dùng để kiểm tra tỷ lệ nảy mầm định kỳ của Kho Hạt được lấy từ chính hệ thống đất trồng chung của Vòm Xanh, bao gồm cả khu vực gần đường ống bị ảnh hưởng. Con đã kiểm tra lại toàn bộ dữ liệu tỷ lệ nảy mầm trong ba năm qua — thứ mà, con thừa nhận, con đã không đủ nhạy bén để nhận ra là một xu hướng đáng lo ngại cho đến bây giờ."
Cô chỉ vào một biểu đồ khác, thể hiện tỷ lệ nảy mầm trung bình của toàn bộ Kho Hạt theo từng năm — một đường đi xuống chậm rãi nhưng không thể phủ nhận, từ chín mươi ba phần trăm ba năm trước xuống còn tám mươi bốn phần trăm ở lần kiểm tra gần nhất.
"Nếu xu hướng này tiếp tục, và nếu chúng ta không thể ngăn chặn nguồn gây ô nhiễm, con ước tính trong vòng năm đến bảy năm tới, một số dòng giống hiếm nhất trong Kho — những dòng chỉ còn vài chục hạt — sẽ mất khả năng tái sinh hoàn toàn. Không phải vì chúng ta thiếu hạt để thử, mà vì bản thân những hạt còn lại sẽ không còn đủ sức sống để nảy mầm thành công, dù chúng ta có bao nhiêu lần thử đi nữa."
"Con có nói điều này với đầy đủ chắc chắn không, hay đây vẫn là một dự đoán?" một thành viên khác của Hội Đồng hỏi, giọng có phần hoài nghi.
"Đây là một dự đoán dựa trên dữ liệu thật, không phải phỏng đoán vô căn cứ," Khê Miên đáp, giữ vững lập trường dù cảm nhận được áp lực trong câu hỏi. "Nhưng tôi thừa nhận có một mức độ không chắc chắn nhất định — sinh học không bao giờ vận hành theo đường thẳng hoàn hảo. Có thể tình hình sẽ tệ hơn dự đoán của tôi. Cũng có thể nhẹ hơn một chút. Nhưng xu hướng chung — sự suy giảm liên tục nếu không có can thiệp — là điều tôi hoàn toàn tin tưởng vào dữ liệu của mình."
Vũ Đình Khoát, ngồi ở góc phòng với tư cách đại diện kỹ thuật của Trạm Hô Hấp, lên tiếng bổ sung, giọng ông mang một sự tự trách rõ rệt mà Khê Miên biết ông đã mang theo suốt cả tuần qua. "Tôi xin nhận trách nhiệm về việc không phát hiện ra vấn đề này sớm hơn. Hệ thống giám sát của Trạm được thiết kế để bảo vệ con người, và nó đã làm đúng chức năng ấy. Nhưng chúng tôi đã không tính đến khả năng đất trồng tích lũy độc tố theo cách khác biệt với cơ thể người. Đó là một lỗ hổng chúng tôi sẽ khắc phục ngay khi có thể, nhưng trước mắt, vấn đề cấp bách nhất là chúng ta cần một bộ lõi lọc thay thế mà bản thân Vòm Xanh không còn khả năng tự sản xuất."
"Vậy giải pháp là gì?" Biện Bá Uy hỏi, nhìn quanh phòng, ánh mắt dừng lại ở từng người một cách nghiêm túc.
"Có hai hướng, và con nghĩ chúng ta cần làm cả hai cùng lúc," Khê Miên nói, đã chuẩn bị sẵn câu trả lời này từ nhiều ngày trước. "Thứ nhất, đội kỹ thuật của cha con cần bắt đầu ngay việc xử lý tạm thời — cô lập các khu vực đất bị ô nhiễm nặng nhất, luân chuyển canh tác sang các khu vực còn an toàn, để làm chậm tốc độ lan rộng trong thời gian chúng ta tìm giải pháp lâu dài. Thứ hai — và đây là phần con muốn đề xuất với Hội Đồng hôm nay — chúng ta cần cử một đoàn đến Vòm Cát, đối tác thương mại lâu năm của chúng ta, để tìm kiếm linh kiện thay thế cho lõi lọc, đồng thời trao đổi lấy các dòng giống bổ sung có thể giúp đa dạng hóa nguồn gen của Kho Hạt, phòng trường hợp một số dòng hiện có của chúng ta không thể phục hồi."
Câu đề xuất ấy, dù Khê Miên đã dự đoán sẽ gây tranh cãi, vẫn tạo ra một phản ứng mạnh hơn cô tưởng. Một vài thành viên Hội Đồng bắt đầu trao đổi thì thầm với nhau, ánh mắt lo lắng, trong khi Biện Bá Uy giữ vẻ mặt trầm ngâm không để lộ quan điểm ngay lập tức.
"Đây là một đề xuất lớn, Khê Miên," ông nói cuối cùng. "Cử một đoàn ra khỏi Vòm, xuyên qua Đồng Tro, không phải là quyết định chúng ta có thể đưa ra trong một buổi họp không chính thức như thế này. Ta sẽ triệu tập toàn Hội Đồng vào ba ngày tới để thảo luận đầy đủ. Trong lúc đó, con và cha con hãy tiếp tục triển khai các biện pháp cô lập tạm thời. Chúng ta cần thời gian, nhưng con nói đúng — chúng ta không có nhiều thời gian để lãng phí."
Một thành viên lớn tuổi của Hội Đồng, ngồi cạnh cửa sổ, lên tiếng trước khi cuộc họp kết thúc hẳn. "Sử Đình Lam sẽ không dễ dàng đồng ý với việc cử người ra ngoài đâu. Ông ấy vẫn luôn nói rằng mỗi người rời Vòm là một miệng ăn ít đi nhưng cũng là một đôi tay lao động ít đi, và nếu đoàn không trở về, chúng ta còn mất luôn cả những gì họ mang theo."
"Ta biết quan điểm của Sử Đình Lam," Biện Bá Uy đáp, giọng điềm tĩnh nhưng dứt khoát. "Và ta tôn trọng nó, vì nó xuất phát từ trách nhiệm thật sự, không phải sự ích kỷ. Nhưng chính vì vậy mà buổi họp toàn Hội Đồng cần diễn ra đàng hoàng, để mọi quan điểm — kể cả những quan điểm phản đối — đều được lắng nghe trước khi chúng ta quyết định điều gì đó không thể rút lại."
Khê Miên ghi nhớ lời cảnh báo ấy, cảm thấy một nút thắt lo lắng mới hình thành trong ngực, khác với nỗi lo về Bệnh Mục Rễ — một nỗi lo về việc liệu đề xuất của chính cô có sống sót qua ba ngày tới hay không, trước khi nó có cơ hội trở thành hiện thực.
Sau cuộc họp, khi Khê Miên và cha cô cùng bước ra khỏi phòng họp, đi dọc hành lang dẫn về khu dân cư, cả hai đều im lặng một lúc lâu, mỗi người chìm trong suy nghĩ riêng.
"Con không trách cha đâu," Khê Miên nói cuối cùng, như thể đọc được nỗi day dứt trong lòng ông dù ông không nói ra. "Cha đã làm đúng mọi thứ cha có thể làm với những gì cha biết vào thời điểm đó. Không ai có thể lường trước hết mọi khả năng."
"Cha biết," Vũ Đình Khoát đáp, giọng vẫn còn nặng nề. "Nhưng biết điều đó không làm nó nhẹ đi được bao nhiêu. Cha nghĩ đến mẹ con, đến việc bà đã mất vì chính hệ thống này, và giờ đây, hệ thống ấy lại đe dọa những gì con đã dành cả đời để bảo vệ. Có những đêm cha tự hỏi liệu Trạm Hô Hấp có phải là một lời nguyền đối với gia đình mình hay không."
"Không phải lời nguyền," Khê Miên nói, nắm lấy tay cha, một cử chỉ hiếm hoi giữa hai người vốn không quen thể hiện tình cảm bằng hành động. "Đó chỉ là một hệ thống được xây dựng bởi con người, với những giới hạn của con người. Nó đã giữ cho chúng ta sống sót gần một trăm năm. Giờ nó cần được sửa chữa, giống như mọi thứ khác cần được chăm sóc theo thời gian. Đó không phải là thất bại của cha, hay của mẹ, hay của bất kỳ ai. Đó chỉ là một phần của việc sống trong một thế giới không hoàn hảo."
Vũ Đình Khoát nhìn con gái, và trong ánh mắt ông, Khê Miên thấy một điều gì đó vừa đau đớn vừa ấm áp — sự nhận ra rằng đứa trẻ ông từng bảo bọc quá mức sau khi mất vợ, giờ đây đã trở thành người an ủi ông trong những khoảnh khắc khó khăn nhất.
Tối hôm đó, trước khi ngủ, Khê Miên dành thời gian viết một danh sách dài trong cuốn sổ tay của mình — không phải những suy tưởng như thường lệ, mà một danh sách thực tế: những dòng giống cần ưu tiên bảo vệ trước tiên nếu tình hình xấu đi, những gì một đoàn lữ hành đến Vòm Cát sẽ cần mang theo, những câu hỏi cô sẽ cần trả lời trước Hội Đồng trong ba ngày tới.
Ở cuối trang, cô viết thêm một dòng, ngắn gọn nhưng chứa đựng một quyết tâm mà cô còn chưa dám nói ra thành lời với bất kỳ ai, kể cả cha mình:
*Nếu Hội Đồng cần một người dẫn đầu đoàn đi Vòm Cát, người hiểu rõ nhất giá trị của những gì chúng ta cần mang theo và mang về, con nghĩ người đó nên là con.*