Đường Tôm Không Có Tên
8 phút đọc

Chương 5

Chương 5

Quán cà phê Kiên chọn nằm khuất trong một con hẻm nhỏ cách cổng cảng chừng năm phút đi bộ, kiểu quán cóc lợp mái tôn, bàn ghế nhựa kê dưới tán cây bàng, khách chủ yếu là công nhân bốc xếp tranh thủ giờ nghỉ. Không phải chỗ người ta chọn để gặp gỡ đối tác, mà là chỗ người ta chọn khi không muốn bị ai để ý đang gặp ai.

Hải Yến tới trước, chọn bàn trong góc, quay lưng vào tường. Kiên đến sau vài phút, vẫn mặc bộ đồng phục hải quan màu xanh rêu, tay xách theo một túi vải bạc màu. Anh ngồi xuống, gọi hai ly cà phê đá, rồi im lặng một lúc như đang cân nhắc nên bắt đầu từ đâu.

“Cảm ơn chị đã tới,” cuối cùng anh nói. “Tôi biết nghe hơi kỳ, một cán bộ hải quan tự nhiên hẹn gặp kiểm định viên ngoài giờ làm.”

“Không sao. Tôi cũng đang cần tìm hiểu thêm về khu vực này.” Hải Yến đáp, giữ giọng trung lập. “Anh nói hôm qua nghe tôi hỏi về mã vùng nuôi cũ, nhớ ra chuyện gì?”

Kiên rút từ túi vải ra một cuốn sổ tay nhỏ, bìa nhựa đã sờn, mở tới một trang đã đánh dấu sẵn bằng góc gấp. “Tôi giữ nghề này bảy năm rồi, quen với việc ghi chép lại những container có dấu hiệu bất thường, dù không phải lúc nào cũng thuộc thẩm quyền xử lý của tôi. Hồi tôi mới vào nghề, có một đợt kiểm tra ngẫu nhiên container của công ty tiền thân Đại Dương, lúc đó công ty còn tên khác. Tôi nhớ trong chứng từ có nhắc tới mã KB, y hệt chữ chị nhắc hôm qua.”

“Anh nhớ chính xác vậy sao?” Hải Yến hỏi, cố giấu sự chú ý đang dâng lên trong lòng.

“Vì đợt đó có chuyện xảy ra khiến tôi nhớ mãi.” Giọng Kiên trầm xuống. “Em trai tôi, thằng Khải, làm thuyền viên trên một tàu cá thuộc đội tàu của công ty đó. Nó chết trên biển, bảy năm trước, đúng khoảng thời gian tôi thấy mấy container mang mã KB đi qua cảng liên tục trong vài tuần.”

Hải Yến đặt ly cà phê xuống, im lặng chờ anh nói tiếp. Cô nhận ra ngay đây không còn là một câu chuyện về giấy tờ hàng hoá nữa.

“Hồ sơ chính thức ghi nó chết vì tai nạn lao động, trượt chân ngã xuống khoang máy trong lúc kéo lưới ban đêm. Biên bản dài chưa tới nửa trang. Không ai điều tra thêm, vì tàu đang ở ngoài khơi xa, không có camera, chỉ có lời khai của thuyền trưởng và vài thuyền viên khác.” Kiên xoay ly cà phê trong tay, không uống. “Tôi lúc đó mới vào nghề, chưa có tiếng nói gì, gia đình tôi cũng nghèo, không đủ sức đi kiện tụng đòi điều tra lại. Tụi tôi chỉ nhận được một khoản đền bù nhỏ rồi thôi.”

“Anh nghĩ cái chết của em trai anh liên quan tới mã KB?” Hải Yến hỏi thẳng.

“Tôi không dám khẳng định. Chỉ là linh cảm, và một chi tiết tôi luôn thắc mắc: mấy tuần trước khi Khải chết, nó có gọi điện về cho mẹ tôi, nói tàu chuyển sang chở một loại hàng khác ngoài tôm, không nói rõ là gì, chỉ nói là công việc nặng hơn, giờ giấc bất thường hơn, và nó muốn xin nghỉ nhưng thuyền trưởng không cho vì đang thiếu người giữa chuyến.” Kiên nhìn thẳng vào mắt Hải Yến. “Sau khi nó mất, tôi có hỏi lại vài người từng đi chung tàu, nhưng ai cũng né tránh, như thể sợ điều gì đó.”

Kiên nhấp một ngụm cà phê, ánh mắt nhìn ra con hẻm nơi vài đứa trẻ đang đá bóng bằng một quả banh nhựa đã méo mó. “Sau này tôi có tìm gặp lại một, hai người từng đi chung tàu với Khải, hỏi khéo về chuyến hàng lạ đó. Có người bảo tôi quên chuyện cũ đi, sống mà lo cho gia đình. Có người thì đổi số điện thoại, tôi gọi không được nữa. Tôi bắt đầu nghi ngờ không phải ai cũng vô tình quên, mà có người chủ động muốn quên, hoặc bị ai đó nhắc phải quên.”

“Anh có báo cáo nghi ngờ đó lên cấp trên không?” Hải Yến hỏi.

“Có, một lần, hồi mới ba năm trước khi tôi lên chức phó phòng kiểm hoá. Tôi viết một bản đề xuất xin mở lại hồ sơ, dựa trên vài điểm bất thường tôi ghi chép được suốt mấy năm.” Kiên cười nhạt, nụ cười không có chút vui vẻ nào. “Kết quả là bị trả lại với lý do không đủ căn cứ, khuyên tôi tập trung vào công việc chuyên môn, đừng để chuyện gia đình ảnh hưởng phán đoán nghề nghiệp. Tôi hiểu ý họ muốn nói gì, nhưng từ đó tôi im lặng, chỉ âm thầm ghi chép riêng, chờ một ngày có đủ chứng cứ để không ai gạt bỏ được nữa.”

Hải Yến im lặng một lúc, sắp xếp lại những gì vừa nghe trong đầu. Câu chuyện của Kiên, dù chưa có bằng chứng cụ thể, lại khớp một cách kỳ lạ với cảm giác bất an cô đã có từ khi thấy cuốn sổ bìa da nâu trên bàn ông Bảo, từ khi thấy mã KB-07 bị phủ nhận bằng một lời giải thích không nhất quán.

“Tôi phải nói thật với anh một chuyện,” cô nói, giọng chậm rãi, cân nhắc từng lời. “Mã KB không chỉ là mã cũ ngẫu nhiên. Nó là viết tắt của Kênh Ba, một hợp tác xã nuôi tôm từng tồn tại ở đúng khu vực này, sụp đổ mười năm trước sau một vụ án liên quan tới lô hàng nhiễm hoá chất.”

“Chị biết rõ vậy, chắc không phải chỉ vì công việc audit,” Kiên nhận xét, ánh mắt anh dò xét nhưng không có vẻ gì công kích.

Hải Yến cân nhắc trong vài giây. Cô đã giữ bí mật này với tất cả mọi người ở vùng đất này, kể cả với chính tổ chức mình đang làm việc. Nhưng ngồi trước một người vừa mất đi người thân vì thứ có thể liên quan tới cùng một đường dây, cô cảm thấy sự im lặng lúc này giống một hình thức phản bội hơn là thận trọng.

“Người đứng đầu hợp tác xã đó là cha tôi,” cô nói, giọng khẽ nhưng rõ ràng. “Ông bị kết án, mất trong trại giam ba năm sau đó vì bệnh không được chữa kịp thời. Tôi về đây, dưới cái tên này, một phần vì công việc, một phần vì tôi muốn biết chuyện gì thực sự đã xảy ra.”

Kiên nhìn cô một lúc lâu, không nói gì, chỉ gật đầu chậm rãi như đang xếp lại toàn bộ những mảnh ghép trong đầu theo một trật tự mới. “Vậy thì chúng ta có lý do giống nhau để tìm ra sự thật, dù xuất phát điểm khác nhau,” cuối cùng anh nói. “Nhưng tôi phải nói trước, tôi làm hải quan, mọi thứ tôi làm đều phải trong phạm vi thẩm quyền cho phép. Tôi không thể tự ý mở hồ sơ, không thể tự ý điều tra khi chưa có lệnh.”

“Tôi hiểu. Tôi cũng vậy, phải giữ đúng quy trình audit, không thể để cảm xúc cá nhân ảnh hưởng tới kết luận chuyên môn.” Hải Yến đáp. “Nhưng chúng ta có thể chia sẻ thông tin, trong giới hạn cho phép. Anh biết cảng, biết nhật ký tàu, biết những gì đi qua đây. Tôi biết cách đọc hồ sơ chứng nhận, cách phát hiện những chỗ số liệu không khớp.”

Kiên gật, đưa tay ra bắt tay cô, một cử chỉ trang trọng hơn mức cần thiết cho một cuộc trò chuyện ở quán cà phê cóc, nhưng cả hai đều hiểu đó không chỉ là một cái bắt tay xã giao.

“Tôi sẽ thử tìm lại nhật ký tàu của con tàu Khải từng làm việc, xem còn lưu trong hệ thống không,” anh nói. “Có thể sẽ mất thời gian, vì hồ sơ cũ vậy giờ chuyển kho lưu trữ khác rồi.”

“Tôi sẽ tiếp tục audit như bình thường, không để lộ mình đang tìm hiểu thêm ngoài phạm vi công việc,” Hải Yến nói. “Nhưng có một việc anh có thể giúp ngay: hôm nay ở cuộc họp mở audit, tôi thấy trên bàn ông Bảo có một cuốn sổ tay bìa da nâu, có dập nổi hình con sóng nhỏ, giống hệt loại sổ hợp tác xã Kênh Ba từng phát cho các tổ trưởng vùng nuôi. Anh có biết cách nào để tôi tiếp cận gần cuốn sổ đó hơn không, mà không khiến ông ta nghi ngờ?”

Kiên suy nghĩ một lúc, gõ nhẹ ngón tay lên mặt bàn nhựa. “Ông Bảo có thói quen tới thăm khu vực cảng vào các buổi sáng thứ Ba và thứ Sáu, kiểm tra tiến độ bốc dỡ hàng xuất. Ông ấy thường mang theo cuốn sổ đó, để trong cặp táp riêng, không giao cho trợ lý. Nếu chị muốn quan sát kỹ hơn, có thể sắp lịch lấy mẫu bổ sung vào đúng những buổi đó.”

“Cảm ơn anh.” Hải Yến ghi lại thông tin vào sổ tay của mình. “Tôi sẽ cân nhắc.”

Họ ngồi thêm một lúc, trao đổi thêm vài chi tiết về quy trình làm việc của nhau, cố gắng tìm ra những điểm giao nhau có thể khai thác mà không vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp của cả hai. Khi Hải Yến đứng dậy ra về, Kiên gọi với theo một câu khiến cô dừng chân giữa lối đi hẹp giữa hai dãy bàn.

“Chị Yến này. Nếu chị định lật lại chuyện cũ, chị nên cẩn thận không chỉ với công ty đó, mà cả với người thân của mình nữa. Ở đây, mười năm không đủ dài để người ta quên hết mọi chuyện, nhưng đủ dài để nhiều người đã học cách sống chung với sự im lặng. Không phải ai cũng muốn chị khuấy động nó lên lại đâu.”

Hải Yến gật đầu, không đáp lại thành lời, vì cô biết chính xác anh đang nói tới ai. Bước ra khỏi con hẻm nhỏ, ánh nắng chiều đã ngả vàng trên những mái tôn cũ, cô rút điện thoại kiểm tra lại tin nhắn ẩn danh từ hôm qua, dòng chữ “Chào mừng trở lại, cô Yến. Lâu quá không gặp” vẫn còn nằm đó, chưa có phản hồi nào từ số máy ấy khi cô thử nhắn lại một câu hỏi đơn giản: “Ai đây?”

Không có gì. Chỉ có sự im lặng, giống hệt thứ im lặng bà Sáu đã giữ suốt buổi sáng ở chợ, giống thứ im lặng mà có lẽ, theo lời Kiên, đã bao trùm lên cả một vùng đất này trong mười năm qua.

Đã sao chép liên kết chương