Đường Tôm Không Có Tên
9 phút đọc

Chương 8

Chương 8

Trung tâm Chứng nhận An Toàn Thực Phẩm Miền Nam, nơi Hải Yến làm việc, có một chi nhánh khu vực đặt tại thành phố Cà Mau, cách Năm Căn chừng bốn mươi phút chạy xe. Sáng hôm sau buổi tối gặp ông Bảo, cô xin phép cấp trên ghé qua chi nhánh này để tra cứu hồ sơ audit các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực, một yêu cầu bình thường đối với bất kỳ kiểm định viên nào đang thụ lý một vụ việc phức tạp.

Điều cô không nói ra là mục tiêu thật sự của chuyến đi: chi nhánh này, dưới một cái tên tổ chức khác trước khi sáp nhập vào hệ thống hiện tại, chính là đơn vị từng cấp giấy chứng nhận xuất khẩu cho hợp tác xã Kênh Ba trong những năm hợp tác xã còn hoạt động. Nếu hồ sơ cũ còn được lưu giữ, đây sẽ là con đường hợp pháp duy nhất giúp cô tiếp cận tài liệu kỹ thuật của thời kỳ đó mà không cần dựa vào hồ sơ toà án vốn đã bị rút bớt.

Người quản lý kho lưu trữ chi nhánh, một phụ nữ trẻ hơn Hải Yến vài tuổi, dẫn cô xuống tầng hầm nơi các hồ sơ cũ được đóng thùng theo năm. “Hồ sơ trước năm sáp nhập hơi lộn xộn chị ạ, tụi em chưa số hoá hết. Chị cần năm nào để em tìm giúp?”

“Khoảng mười năm trước, các hồ sơ chứng nhận xuất khẩu của những hợp tác xã nuôi tôm nhỏ trong vùng Năm Căn,” Hải Yến nói, cố giữ giọng như một yêu cầu công việc thông thường.

Trong lúc chờ tìm thùng hồ sơ, người quản lý kho kể thêm cho cô nghe về công việc lưu trữ ở đây, than thở rằng từ ngày sáp nhập hệ thống, nhân sự phụ trách kho cũ nghỉ việc gần hết, người mới vào không nắm rõ cách sắp xếp truyền thống nên nhiều khi phải lục cả buổi mới ra một hồ sơ. “Có đợt sếp cũ định thanh lý bớt giấy tờ trước sáp nhập cho gọn kho, may mà có người phản đối, giữ lại được kha khá, không thì giờ chị tìm cũng chịu thua,” cô nói, tay vẫn thoăn thoắt lật từng thùng để dò nhãn.

Sau gần một giờ lục tìm, họ tìm được một thùng giấy ghi nhãn “HTX vừa và nhỏ — lưu trữ tạm”, bên trong là hàng chục tập hồ sơ mỏng của các hợp tác xã đã giải thể từ lâu. Hải Yến lần theo bảng chữ cái, tìm tới tập hồ sơ mang tên Kênh Ba, độ dày chỉ bằng một phần ba so với hồ sơ vụ án cô đã xem ở toà án tỉnh, nhưng lại chứa những thứ hồ sơ toà án không có: các phiếu chứng nhận chất lượng do chính tổ chức tiền thân của Trung tâm cấp cho từng lô hàng xuất khẩu của hợp tác xã trong hai năm trước khi xảy ra vụ việc.

Cô lật từng phiếu, đối chiếu ngày tháng, tìm tới những phiếu gần nhất trước thời điểm lô hàng gây ngộ độc bị phát hiện. Ở góc dưới mỗi phiếu, ngoài chữ ký của người phụ trách kỹ thuật, còn có một mã số đóng dấu nhỏ, dạng viết tắt kèm hai chữ số, dùng để định danh nội bộ người thực hiện thẩm định kỹ thuật cuối cùng trước khi cấp chứng nhận. Trên hầu hết các phiếu, mã số ấy là “TT-02”. Nhưng trên ba phiếu cuối cùng, ngay trước thời điểm lô hàng gây ngộ độc, mã số đã đổi thành “TS-04”.

Hải Yến ghi lại mã số ấy vào sổ tay, so sánh với những gì cô nhớ từ hồ sơ vụ án ở toà án tỉnh. Trong bản sao chụp phần phụ lục chứng cứ kỹ thuật hôm trước, dù phần lớn nội dung đã bị làm mờ hoặc thất lạc, cô vẫn nhớ rõ có một con dấu nhỏ tương tự xuất hiện ở góc trang cuối, mã số cũng bắt đầu bằng chữ TS. Cô chưa dám khẳng định đó là cùng một mã số, vì trí nhớ không thể thay thế cho bằng chứng, nhưng linh cảm nghề nghiệp mách bảo cô đang tiến gần tới một điều gì đó quan trọng.

“Chị tìm được gì cần em hỗ trợ thêm không?” người quản lý kho hỏi khi thấy Hải Yến ngồi lặng lẽ quá lâu bên chồng hồ sơ.

“Không, cảm ơn em. Chị chỉ cần copy vài trang thôi.” Hải Yến mỉm cười, cố giữ vẻ mặt bình thường, dù trong lòng cô đang dồn dập những câu hỏi chưa có lời giải.

Cô photocopy toàn bộ các phiếu chứng nhận liên quan tới mã số TS-04, ký vào sổ mượn hồ sơ đúng thủ tục, rồi rời chi nhánh với một cảm giác vừa hào hứng vừa nặng nề. Trên đường quay lại Năm Căn, cô ghé qua văn phòng làm việc tạm thời được Trung tâm bố trí cho cô tại một khách sạn nhỏ gần cảng, nơi cô có thể truy cập vào hệ thống hồ sơ điện tử nội bộ của Trung tâm để đối chiếu thêm.

Cô tìm trong hệ thống lưu trữ điện tử của Trung tâm — vốn chỉ bắt đầu số hoá dữ liệu từ khoảng bảy năm trước, nên không có gì từ thời điểm vụ án cũ — nhưng lại tìm thấy toàn bộ hồ sơ audit gần đây nhất của Đại Dương, bao gồm cả phiếu kết quả chính thức mà công ty đã nộp cho lô hàng DH-0417, thứ cô đã xem qua sơ bộ trong buổi họp mở audit nhưng chưa có thời gian soi kỹ từng chi tiết nhỏ.

Cô phóng to hình ảnh scan của phiếu kết quả, lần tới góc dưới cùng, nơi có chữ ký của người phụ trách kỹ thuật phòng lab hiện tại xác nhận kết quả, kèm theo con dấu định danh nội bộ tương tự như những gì cô vừa thấy trong hồ sơ cũ. Mã số hiện lên trên màn hình, rõ ràng không thể nhầm lẫn: “TS-04”.

Hải Yến ngồi bất động trước màn hình một lúc lâu, tay đặt lên bàn phím nhưng không gõ gì thêm. Mười năm, hai vụ việc khác nhau, hai bộ hồ sơ được lưu trữ ở hai nơi hoàn toàn tách biệt, vậy mà cùng xuất hiện một mã số định danh duy nhất: TS-04. Đây không thể là trùng hợp ngẫu nhiên. Một mã số định danh nội bộ như vậy thường gắn liền với một cá nhân cụ thể trong suốt thời gian người đó còn công tác tại vị trí thẩm định kỹ thuật, hiếm khi được cấp lại cho người khác vì mục đích tránh nhầm lẫn trách nhiệm.

Cô mở lại toàn bộ những bức ảnh chụp hồ sơ vụ án cũ, tìm kiếm bất kỳ manh mối nào khác có thể xác nhận mã TS-04 gắn với cái tên cụ thể nào. Nhưng phần lớn tài liệu liên quan tới danh tính người thẩm định kỹ thuật trong vụ án cũ đều đã bị thất lạc cùng với các phiếu xét nghiệm gốc, đúng như những gì ông Bảy ở phòng lưu trữ toà án đã nói.

Cô lục lại trong đầu toàn bộ những gì mình biết về hệ thống mã định danh trong ngành: thông thường, các phòng kiểm nghiệm cấp mã cố định cho từng kỹ thuật viên ngay khi họ được cấp chứng chỉ hành nghề, và mã đó gắn liền với người ấy trong suốt thời gian công tác, kể cả khi chuyển đơn vị công tác trong cùng hệ thống ngành, trừ khi có quyết định thu hồi chứng chỉ. Nếu đúng theo quy tắc ấy, người mang mã TS-04 mười năm trước hẳn vẫn đang mang chính mã đó, dù có thể không còn trực tiếp làm kỹ thuật viên nữa mà đã chuyển sang một vai trò khác có quyền phê duyệt cuối cùng.

Cô cần một cách khác để xác định ai đang hoặc đã từng mang mã TS-04. Cách nhanh nhất, và cũng rủi ro nhất, là hỏi thẳng bà Tuyết — người duy nhất còn sống và làm việc liên tục trong ngành từ thời điểm đó tới nay, người chắc chắn biết rõ hệ thống mã định danh nội bộ của phòng lab hoạt động ra sao. Nhưng sau lần gặp gỡ thất bại trước đó, cô hiểu tiếp cận trực diện sẽ chỉ khiến bà Tuyết co cụm hơn.

Cô quyết định thử một hướng khác. Cô soạn một email gửi tới phòng nhân sự của phòng kiểm nghiệm khu vực, với danh nghĩa kiểm định viên đang audit, yêu cầu cung cấp thông tin về hệ thống mã định danh nội bộ dùng để phân công người thẩm định kỹ thuật, viện lý do cần đối chiếu tính hợp lệ của các phiếu kết quả liên quan tới lô hàng đang audit. Đây là một yêu cầu hoàn toàn hợp pháp, nằm trong quyền hạn của cô, không thể bị coi là dò xét cá nhân.

Trong lúc chờ phản hồi, cô mở lại cuốn sổ tay của cha, lần tới những trang cuối cùng chứa các dãy số bí ẩn mà Kiên từng nhận xét có dạng giống mã lô nội bộ. Cô thử áp dụng logic của mã TS-04 vào các dãy số ấy, tìm xem có cấu trúc tương tự nào không — hai chữ cái đầu kèm hai chữ số — nhưng không tìm thấy sự trùng khớp rõ ràng nào. Có lẽ hệ thống mã của hợp tác xã Kênh Ba và hệ thống mã định danh của phòng lab là hai thứ hoàn toàn khác nhau, không thể áp dụng chung một logic giải mã.

Cô gấp cuốn sổ lại, xoa hai bên thái dương, cảm giác mệt mỏi bắt đầu len vào sau một ngày dài với quá nhiều thông tin dồn dập. Nhưng ngay khi cô định đứng dậy pha một tách trà để nghỉ ngơi đôi chút, điện thoại rung lên một email phản hồi, đến sớm hơn cô tưởng, từ chính phòng kiểm nghiệm khu vực.

Nội dung email ngắn gọn, mang giọng điệu hành chính lạnh lùng: “Theo quy định bảo mật nội bộ, chúng tôi không thể cung cấp thông tin định danh cá nhân gắn với mã số thẩm định kỹ thuật cho bên ngoài, kể cả các đơn vị đối tác chứng nhận. Nếu cần, vui lòng liên hệ qua kênh chính thức giữa hai tổ chức.”

Câu trả lời từ chối ấy, đúng theo quy định, không có gì bất thường. Nhưng điều khiến Hải Yến chú ý là thời gian phản hồi: chưa đầy hai mươi phút kể từ khi cô gửi yêu cầu, một tốc độ xử lý nhanh bất thường đối với một cơ quan hành chính vốn nổi tiếng chậm chạp trong mọi thủ tục giấy tờ khác mà cô từng làm việc cùng trước đây. Nhanh đến mức, cô không thể không tự hỏi liệu có ai đó, ngay khi thấy yêu cầu của cô xuất hiện trong hệ thống, đã lập tức đẩy nó lên ưu tiên xử lý và ra lệnh từ chối trước khi nó kịp đi qua các bước xét duyệt thông thường.

Đã sao chép liên kết chương